Hoài Thanh: Nhà thơ trong phê bình thơ

Theo các học giả và các nhà nghiên cứu, Hoài Thanh là một tài năng xuất sắc hiếm có trong lĩnh vực phê bình văn học Việt Nam thế kỷ XX, một nhà văn hóa lớn suốt một đời gắn bó thiết tha với dân tộc và văn hóa dân tộc…

Có lẽ, với những người học văn và yêu mến văn chương thì “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh  - Hoài Chân đã trở thành một cuốn sách không thể thiếu. Cho đến nay, “Thi nhân Việt Nam ” đã được tái bản tới 32 lần.

Theo thống kê chưa đầy đủ, đã có hơn 150 công trình nghiên cứu, bài viết với độ dày tổng cộng chừng 2.000 trang nghiên cứu về Hoài Thanh. Hầu hết những công trình và bài viết đều ghi nhận những đóng góp xuất sắc của ông trên phương diện phê bình văn học, nhất là trong lĩnh vực phê bình thơ.

Hoài Thanh, tên thật là Nguyễn Đức Nguyên, sinh năm 1909 trong một gia đình nhà Nho sa sút ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Ông học rất giỏi và sớm giác ngộ cách mạng. Ông từng 2 lần bị giặc Pháp bắt, trục xuất khỏi Bắc Kỳ và giải về quê. Đầu năm 1931, Hoài Thanh vào Huế, kiếm sống bằng nghề sửa morát cho nhà in Đắc Lập, sau đó ông chuyển sang nghề dạy học tư. Cũng chính thời điểm này, ông tìm được niềm đam mê mãnh liệt của cả cuộc đời mình: văn chương và các giá trị trong nền văn hóa dân tộc.

Hoài Thanh viết “Thi nhân Việt Nam” cùng Hoài Chân, xuất bản năm 1942 trong giai đoạn hết sức khó khăn. Ông phải cật lực đi dạy tư và vợ ông có lúc phải mở quán bán bánh kẹo hoặc bán sách để kiếm tiền nuôi các em, các con và người cha già bị bệnh hen thường xuyên phải dùng thuốc đắt tiền.

Nhưng gánh nặng mưu sinh không hề ảnh hưởng tới tình yêu văn học, tới những cuộc đàm đạo về văn học nghệ thuật của hai anh em Hoài Thanh - Hoài Chân cùng nhiều văn nghệ sĩ khác. Cũng chính tình yêu ấy đã sớm truyền vào những người con trai ông sau này.

Trong hồi ức của nhà phê bình văn học Từ Sơn - con trai của nhà văn Hoài Thanh thì ấn tượng về cha mình là một người lúc nào cũng suy nghĩ, làm việc nghiêm túc và rất ít nói. Nhưng mỗi câu nói của ông đều là một bài học, một lời nhắc nhở hữu ích với các con ngay cả khi các con đã trưởng thành. Ông là người sửa, uốn nắn từng câu chữ, dấu chấm, dấu phẩy cho các con từ ngày đầu đến với văn chương.

Hoài Thanh từng chia sẻ với con trai của mình: “Cha viết văn đã 50 năm nhưng công việc cha thích nhất là dạy học và bình thơ, bình thơ hay, vô luận là của ai”. Là một người cha nghiêm khắc, ít thổ lộ tình cảm bằng lời nhưng nếu đọc những dòng nhật ký của Hoài Thanh trong cuốn “Di chúc và di cảo” mới thấy ẩn chứa đằng sau con người trầm lắng ấy là một tâm hồn ấm áp và dạt dào yêu thương.

Với các con, ông luôn nêu cao tấm gương của tinh thần lạc quan và tình yêu cuộc sống. Đã có lúc ông rơi vào tâm trạng đau buồn và bế tắc: “Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu. nhưng càng đi sâu càng lạnh” (Thi nhân Việt Nam ). Đó là bi kịch chung của lớp thanh niên trí thức nặng lòng yêu nước, yêu dân tộc, ghét thực dân phong kiến nhưng bơ vơ giữa ngã ba đường không tìm được người chỉ đường sáng suốt. Nhưng cũng chính ông đã tìm được ánh sáng, tình yêu cuộc sống từ thơ Bác Hồ, thơ Tố Hữu... Ông còn là tấm gương về tính trung thực. Với ông: sống, nghĩ và viết là một.

Đọc các tác phẩm của Hoài Thanh, với lời văn lãng mạn, bay bổng đẹp như thơ, rất dễ hình dung ông là một người lãng tử. Nhưng nhà  phê bình văn học Từ Sơn cho biết, trong cuộc sống, ông lại có tính cách rất “đồ Nghệ”. Trong lá thư đầu tiên viết cho người bạn gái, sau này là người bạn đời của mình là Phan Thị Nga, ông viết: “Hai người hiểu nhau, tha thứ cho nhau, cùng nhau góp sức, góp tư tưởng, góp tính tình, không phải để gây hạnh phúc, mà để giành một phần việc ở đời, quan niệm của tôi về ái tình là thế!”.

Đằng sau tài năng Hoài Thanh là người vợ hết lòng yêu thương chồng con. Từ một người phụ nữ có năng khiếu văn chương, xông xáo, năng nổ viết bài cho báo “Phụ nữ tân văn”, “Ngày nay”… khi quyết định lấy ông, bà tình nguyện hy sinh sự nghiệp để chồng toàn tâm, toàn ý với văn chương. Ông hiểu những hy sinh thầm lặng ấy của bà, thổ lộ qua lời tự vấn trong nhật ký gửi các con: “Sự thực mẹ săn sóc cha, săn sóc các con một trăm phần, cha và các con chưa săn sóc mẹ được một phần”.

Hơn 50 năm gắn bó với văn chương, cả đời kiếm tìm và tôn vinh cái đẹp trong cuộc sống, văn chương và trong văn hóa Việt Nam, Hoài Thanh từng làm việc ở rất nhiều nơi với nhiều vị trí khác nhau như: Đại học Hà Nội, Tổng thư ký Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam, Viện phó Viện Văn học và Chủ nhiệm Tuần báo Văn nghệ... Lúc nào ông cũng nêu cao tấm gương là một người đam mê công việc. Ông đã để lại cho hậu thế nhiều tác phẩm phê bình văn học có ý nghĩa như “Thi nhân Việt Nam”, “Văn chương và hành động”, “Có một nền văn hóa Việt Nam”,... cùng rất nhiều tác phẩm, bài báo có giá trị khác.

Để ghi nhận công lao đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà, năm 2000, Nhà nước ta đã trao tặng ông giải thưởng Hồ Chí Minh cho cụm tác phẩm: “Phê bình và tiểu luận”, (3 tập), “Nói chuyện thơ kháng chiến” và “Thi nhân Việt Nam”

Thảo Duyên

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...