Từ nghèo cháy nóp đến nghèo kiết xác

Đi vào miền Nam nước Việt mới nghe được câu cửa miệng: "Nghèo cháy nóp". Cái nóp là cái gì? Trong bài hát “Nam Bộ kháng chiến” của nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn miêu tả hình ảnh thanh niên năm 1945 ra trận: "Nóp với giáo mang ngang vai nhưng thân trai nào kém oai hùng". Đi chiến đấu, đã mang giáo/ gươm giáo thì nóp ắt cũng loại vũ khí chứ gì?

Thôi thì, không tranh luận, ta hãy tra từ điển cho chắc ăn. "Nóp: Túp con, quây bằng chiếu, bằng cót ở bờ ruộng hay trên thuyền để nằm cho khỏi muỗi", “Việt Nam tự điển” (1931) giải thích. Gần đây, theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999): "Nóp: Bao lớn làm bằng cói hoặc quây bằng chiếu, bằng cót ở bờ ruộng hay trên thuyền để nằm cho khỏi muỗi". Quây là quây như thế nào mà khỏi muỗi? Hơn nữa với từ cót, ta lại hình dung ra chính là tấm phên đan bằng tre, nứa tạm bợ bọc quanh cái gì đó nhằm che chắn, làm sao tránh được muỗi? Trước hết, xin nói ngay, về cái nóp, có liên quan đến bàng trong ca dao Nam Bộ có câu:

Chiều hôm em đứng giã bàng

Thương anh quảy nóp trong hàng quân đi

Bàng này không phải cây bàng tỏa rợp bóng mát, chính là loại cỏ cao từ trên 1 mét đến 2 mét, ống tròn như đầu đũa, thẳng tựa cây cói/ cây lác,"Trắng da vì bởi mẹ cưng/ Đen da vì bởi lội bưng nhổ bàng". Sau khi thu hoạch bàng, phơi khô vài ba nắng, người ta dùng chày đem giã/ nện cho dẹp dùng để đan đệm, túi đệm, nóp… Chày giã bàng tự như chày đâm tiêu nhưng cao và to ngang đầu người, thường làm bằng gỗ sao là công việc nặng nhọc dành cho đàn ông, kể cả việc dùng liềm cắt bàng. Hình ảnh lao động này còn được phản ánh trong lời ăn tiếng nói thuở xưa:

Chàng đi cắt bàng cho nàng đươn đệm

Mãn mùa rồi bán đệm chia đôi

Đươn là đan, phát âm theo người miền Nam. Đệm này dùng làm nóp, đại khái là lấy tấm đệm to, gấp lại theo hình chữ nhật, bề dọc dài chừng hai thước, ngang chừng một mét, may kín hai đầu, như vậy còn hở một bề dọc. Khi ngủ, người ta chui vào đó làm một giấc nhằm tránh muỗi mòng ở vùng đất: "Muỗi kêu như sáo thổi/ Đĩa lềnh tựa bánh canh".

Tại sao gọi nóp?

Ai cũng biết, thời buổi này, một thông tin sau khi đã được công bố, ai cũng có thể "phát tán" bằng "phương pháp" copy + past. Chính vì thế, thông tin từ một nguồn đã được phổ biến rộng khắp. Chẳng hạn, về nóp, tôi nhận thấy từ trang web đến Facebook hầu hết đều chia sẻ thông tin của nhạc sĩ Dân Huyền đã lý giải: "Chuyện truyền miệng kể rằng, cách đây hàng trăm năm, trong một trận tấn công vào nghĩa quân ở Đồng Tháp Mười, một sĩ quan Pháp thấy một vật lạ - một cái bao hình như bằng rơm đan, đủ cho một người chui vào, có thể xếp lại làm tấm lót ngồi, liền hỏi tên thông ngôn (phiên dịch). Tên này cũng chưa rõ là cái gì, muốn trả lời ngay là "chiếu xếp", nhưng không dám động đến tiếng "xếp" (tiếng Pháp có nghĩa là chỉ huy) vì sợ xúc phạm đến "quan lớn" (vì cái xếp dùng để lót ngồi). Y bèn nói trại ra là "chiếu nếp". Ít lâu sau, một tên đội người Việt đóng đồn ở Đồng Tháp Mười tên là Nếp, cấm không được dùng tên y để chỉ "chiếu nếp". Từ đó "chiếu nếp" được gọi là "chiếu Nóp" rồi  dần dà thành "chiếc Nóp". Cái tên đó lưu truyền cho đến bây giờ".

Thật ra cách giải thích lý thú này, nghe cho vui lúc nhâm nhi lai rai ba sợi đặng đưa cay thêm thi vị, chỉ là cách giải thích "từ nguyên" theo lối dân gian. Tên gọi nóp hoàn toàn không liên quan gì đến giai thoại trên, nó chính là từ vay mượn. Người trước nhất, có thể nói cụ Vương Hồng Sển đã khẳng định trong “Tự vị tiếng nói miền Nam” (NXB Văn hóa - 1993): "Nóp: Do tiếng Miên". Ấy là cụ căn cứ vào “Từ điển Miên - Pháp” của J.B Bernard: Nôp, Kontil nôp: ""Natte en jonc cousue en forme de sac, les voyageurs s'en servent en guise de moustiquaire". Từ đó, cụ có giải thích: "Kontil là đệm dệt bằng cây bàng, chiếu thô. Nóp, ban đêm dùng khi ngủ, che thân khỏi muỗi đốt, ban ngày dùng gói các vật cần dùng, y phục v.v…" (tr.489).

vo-nhat-kim-lan_resize_.jpg -0
Ảnh: L.G

Kiểm chứng lại từ “Từ điển Khơme-Việt” (NXB Khoa học xã hội - Hà Nội - 1979) do Hoàng Học biên soạn, ta biết kontil ghi theo lối người Pháp chính là "con-têk: chiếu" (tr.18); "nôp: cái nóp; đêk nôp: ngủ nóp" (tr. 706). Từ vật dụng làm chiếu ấy, người Khơme đã sáng chế ra chiếu nóp: con-têk nôp - chiếu nốp là chiếu có công dụng như ta đã biết. Và, người Việt đã làm theo kể cả vay mượn cách gọi.

Nếu người Việt vay mượn từ nóp của người Khơme, ngược lại, họ vay mượn của ta từ gì cũng nhằm chỉ vật dụng che cho lúc ngủ không bị muỗi đốt/ chích/cắn? Theo cụ Sển chính là từ mùng. “Từ điển Khơme-Việt” cũng cho biết: "mung: mùng, book mung: giặt mùng, màn" (tr. 833). Khi ta nhớ lại câu ca dao:

Gió đưa cơn buồn ngủ lên bờ

Mùng ai có rộng xin ngủ nhờ một đêm.

Lưu ý ở đây phải là mùng, chứ không phải giường, vì rằng, nó đã phản ánh sinh hoạt của thời ban đầu khai hoang mở đất, lưu dân cần cù chất phác, "bán lưng cho đất, bán mặt cho trời" ngủ thế nào cũng được, miễn là tránh được muỗi, chứ không nhất thiết phải giường, phải chăn êm nệm ấm. Lời ăn tiếng nói bình dị, dân dã ấy, ngẫm ra không hề ngẫu hứng mà đã phản ánh sinh hoạt của một thời. Từ "mùng" vây mượn ấy, chắc chắn người Khơme không thể biết với người Việt, tùy theo ngữ cảnh mùng còn còn được phát âm là mồng, thí dụ chỉ về ngày có mồng 1, mồng 2, mồng 3 v.v…

Một khi vây mượn từ nóp, trong tiếng Việt hoàn toàn không có từ đồng âm dị nghĩa. Nếu có nốp dù phát âm từa tựa nóp nhưng hai miền Nam-Bắc lại hiểu khác nhau. "Nốp: Sang trọng, quý phái" (Đại từ điển tiếng Việt, 1999); "Nốp: (nớp): Nao núng, sợ nốp gan: Kinh sợ, hồi họp không yên" (Đại Nam quấc ậm tự vị, 1895). Trở lại với thành ngữ "Nghèo cháy nóp", ta hiểu, gia tài không có gì, nghèo sặc gạch, nghèo mạt rệp, chỉ mỗi cái nóp mà nó cũng cháy béng, "tiêu tán thòng", đúng là kêu trời không thấu. Nói như người miền Nam chính là: "Nghèo tanh, nghèo hôi/ Nghèo lồi mắt cá/ Nghèo sạt xương hông/ Nghèo không gạo nấu/ Nghèo thấu Ngọc Hoàng/ Nghèo tàn, nghèo mạt/ Nghèo khạc ra tro/ Nghèo ho ra máu/ Nghèo náu vô bờ/ Nghèo lờ con mắt/ Nghèo thắt ống chưn/ Nghèo sưng cần cổ/ Nghèo lỗ máu đầu/ Nghèo cực như trâu/ Một xâu, hai thuế…".

Còn người miền Bắc một khi nói về nghèo, ta có thể chọn câu gì? Chà, trong thởi gian ngẫm nghĩ, ta hãy văn chương thư giãn một chốc xem sao. Rằng:

Thiên hạ xác rồi còn đốt pháo

Nhân tình trắng thế lại bôi vôi.

Câu này của Tú Xương hay ở chỗ nhà thơ vận dụng đồng âm của từ "xác" như một thủ pháp chơi chữ. Xác ở đây hiểu theo nghĩa bóng là xác xơ, kiết xác, túng thiếu đến độ không bói đâu ra một xu; do đó, mới có câu thành ngữ: Nghèo kiết xác. Mà đốt pháo, tất nhiên cũng có xác/ xác pháo thì xác này lại là phần vỏ, bã sau khi pháo đã nổ. Nếu ai đó hỏi cắc cớ, với từ "xác" trong tiếng Việt thì nó được so sánh với gì? Ta có thể tìm thấy câu trả lời qua một đoạn thơ của Tú Mỡ:

Lời ông tuyên bố đẹp như thơ

Nhưng tiếc thay ông vụng phỉnh phờ

Nước Pháp ngày nay tôi cứ tưởng

Đang xơ như nhộng, xác như vờ.

Xác được so sánh với vờ. Còn "xơ như nhộng" lại có cách nói tương tự là "trần như nhộng". Vậy, "vờ" là gì? Có câu ca dao:

Đời người như bóng phù du

Sớm còn tối mất, công phu lỡ làng

Phù du là tên gọi khác của con vờ: "Thứ côn trùng ở trên mặt nước, hóa thành hình thì chết" (Việt Nam tân tự điển). Nhưng vờ cũng đồng âm với vờ/ giả vờ, vờ vĩnh, vờ vịt, làm bộ làm tịch, giả đò… Nếu không muốn nói xác như vờ, ta còn có cách nói khác, chẳng hạn nhà văn Nam Cao viết: "Thai buồn rầu nghĩ tới bộ quần áo độc nhất của hắn xác như tổ đỉa"; hoặc "rách như tổ đỉa". "Tổ đỉa" là cái tổ của con đỉa chăng? Đã có tranh luận về cụm từ tổ đỉa trong thành ngữ này, chúng tôi vẫn thuận theo cách giải thích của “Đại từ điển tiếng Việt”: "Cây dại mọc ở bờ nước, lá thường xác xơ, tớp túa; dùng để ví trạng trái rách rưới, lôi thôi, nham nhở".  Còn có thành ngữ tương tự: "Rách như xơ mướp". Một khi mướp song hành cùng xơ, ca dao lại chơi chữ cực kỳ lý thú:

Biết tay ăn mặn thì chừa

Đừng trêu mẹ mướp mà xơ có ngày

Thì xơ ở đây vừa ngầm hiểu là xơ mướp, chỉ có phần vỏ, xác, đừng hòng xơ múi - tức không thể chấm mút, kiếm chác gì thêm được - nhưng cũng hiểu xơ xác, xơ rơ xác rác, thân bại danh liệt nên chớ dại mà trêu mẹ mướp.

Qua những thí dụ nêu trên, ta thấy rằng, kiết và xác nếu đi chung hoặc tách riêng cũng đều hàm nghĩa như “Việt Nam tự điển” (1931) đã giải thích: "Kiết: nghèo xác không có tiền của", có các từ cùng nghĩa như kiết cáu, kiết cú, kiết xác. Và nó đã đi vào vài thành ngữ như ta đã biết. Tuy nhiên, vẫn chưa hết, chẳng hạn nhà văn Ngô Tất Tố viết: "Nhà em kiết xác mồng tơi, ai còn dám rời hoa tai cho mượn?". Thành ngữ "Kiết xác mồng tơi" còn có dị bản "Nghèo rớt mồng tơi". Rắc rối trong thành thành ngữ này vẫn là cách hiểu về "mồng tơi".

Có phải là "loại rau ăn cây leo, khi ngắt hết lá để nấu ăn chỉ còn trơ lại thân xác, đây là thành ngữ chỉ sự nghèo túng đến mức kiệt quệ" - như gia đình nhà văn đã giải thích? (Tắt đèn - NXB Văn học - 2013, tr.100). Dù nhiều người tán thành, thế nhưng vẫn có ý kiến cho rằng, "mồng tơi" lại là phần trên của cái áo tơi ngày xưa thường được kết bằng lá cọ, lá gồi...

Chẳng hạn, “Từ điển thành ngữ Việt Nam” của Viện Ngôn ngữ học giải thích: "Nghèo đến xơ xác cùng kiệt. Rớt: rơi rụng; mồng tơi hay mùng tơi là phần trên của áo tơi che mưa nắng hiện vẫn dùng ở một số tỉnh miền Trung. Mùng tơi thường được kết dày, bằng các dọc lá tốt nên tơi rách mùng tơi vẫn còn nguyên. Áo tơi mà rớt mồng tơi là rách nát hoàn toàn. Người mà phải dùng loại áo tơi này hẳn là nghèo, là khốn khó lắm". Thiết nghĩ, cách giải thích này hợp lý hơn.

Một khi nói đến nghèo, ngoài các câu nêu trên, tiếng Việt cực kỳ phong phú khi xuất hiện "thành ngữ" hoàn toàn không có từ nghèo nhưng vẫn hiểu cực nghèo: Trên răng dưới dái/ trên răng dưới khố/ trên răng dưới ca tút. Ca tút chính là cách phát âm của vây mượn từ tiếng Pháp cartouche: bao đạn. Thì "cái ấy" được ngầm hiểu là nơi chứa "đạn dược" - nhằm tránh đi cái từ "tế nhị" khó nói. Do đó, cách sử dụng khéo léo từ ca tút trong trường hợp này đã được chấp nhận.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Thóc lúa đầy bồ giống má nhà ta…

Sử sách còn ghi lại mẩu chuyện: Ngày nọ, Hoàng giáp Nguyễn Khắc Niêm (1889-1954) đuổi khách ra khỏi cửa, người trong nhà loáng thoáng nghe hai tiếng thô tục mà xưa nay ông chưa hề nói bao giờ. Bà vợ không rõ vì lý do gì, dịu dàng đến gần hỏi: “Cớ sự gì mà thầy giận đến thế, lại mắng người ta là loài chó má?”. Vẫn chưa hết cơn bực bội, ông nói: “Tôi nào có dám mắng ai như thế đâu. Tôi chỉ bảo tên ấy rằng: Chả lẽ ông xem tôi là hạng “chó má” hay sao mà tính chuyện hối lộ với tôi?. Đấy! Bị người ta nghĩ rằng mình có thể bị mua chuộc, là đã thấy nhục rồi”. Nếu ông Niêm dùng mỗi từ “chó” đã đủ nghĩa, nhưng phải thêm từ “má” thì mới bộc lộ hết nỗi tức giận.

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?