Truyện “Thạch Sùng”- tiếp biến và ý nghĩa

Truyện này ở ta có ba tên gọi: “Thạch Sùng”, “Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho”; “Sự tích con mối” nhưng đều chung cốt truyện, nhân vật, tình tiết. Tên truyện thứ ba cho thấy đây thuộc loại truyện cổ tích về loài vật có mục đích chính là răn dạy đạo lý. Có nguồn gốc bên Trung Quốc ảnh hưởng sang ta, giống như “Truyện Kiều”, qua khúc xạ văn hoá nên được điều chỉnh có nhiều chi tiết lấp lánh những ý nghĩa mới.

Truyện kể có vợ chồng nghèo khó tên là Thạch Sùng sống bằng cách xin ăn qua ngày. Họ tằn tiện tích cóp dần dần có một số vốn nhưng vẫn giả bộ nghèo khó mà làm nghề hành khất. Một hôm đi xin về khuya trông thấy hai con trâu từ dưới sông lội lên rồi húc nhau chí tử. Đấy là điềm trời sẽ có lụt to, vợ chồng bàn nhau lấy tiền tích trữ đong gạo đợi lúc thóc cao gạo kém mới đem bán.

Cứ vậy, lâu dần Thạch Sùng trở thành giàu có, tậu nhiều trâu bò ruộng vườn. Ông ta còn nhiều mánh khóe khác như mua lúa rẻ, cho vay nặng lãi, tiến tới buôn to bán lớn. Thuyền buôn của Thạch Sùng đi khắp nơi, lại thông đồng với bọn cướp làm những chuyện thất đức nhưng kiếm được rất nhiều của cải; tiền vàng châu báu như nước đổ về…Thạch Sùng trở thành đại phú gia.

Vợ chồng Thạch Sùng.
Vợ chồng Thạch Sùng.

Thạch Sùng còn nghĩ cách “hối lộ” vua vàng bạc ngọc ngà để có tước quận công. Từ đó Thạch Sùng vừa có tiền, vừa có danh, lại có quyền, trong trướng phủ có tới hàng trăm kẻ hầu hạ và thê thiếp ăn mặc toàn đồ lụa là gấm vóc. Ông ta trở nên nổi tiếng chỉ sau vua.

Nhưng cũng còn có một tay đại cự phú khác tiền vàng nhiều như nước và cũng nổi tiếng xa xỉ. Người đó họ Vương, em ruột Hoàng hậu. Một hôm Thạch Sùng gặp Vương trong một đại tiệc đủ mặt các bậc công hầu. Câu chuyện đưa đẩy thế nào mà dần dần chuyển thành một cuộc khoe của. Người khoe nô tỳ nhà mình đều mặc đồ tơ lụa, mỗi năm phải có hàng kho vải lụa để may mặc. Người đáp nô tỳ nhà tôi thì phải có lúa gạo của cả một huyện mới đủ để chúng ăn…

Cứ thế mà lớn dần  thành cuộc thách đố. Người sai lấy lụa căng làm màn trần phủ tất cả các dinh thự. Kẻ bắt người nhà lấy gấm căng che mọi lầu son gác tía và đường đi lối lại. Người sai lấy thuỷ tinh thay ngói lợp tất cả các nhà cửa phủ đệ. Ánh mặt trời chiếu xuống làm những tòa lầu sáng rực như ngọc. Người lấy ngọc thạch cho thợ cắt ra từng phiến làm gạch lát sân...

Rồi họ đọ ai nhiều san hô, ai nhiều sừng tê nạm ngọc, ai có nhiều vật lạ. Người khoe có ngựa “thiên lý mã” mua từ bên Thiên-trúc mỗi ngày chạy được một ngàn dặm. Người khoe một con hươu có hai đầu. Chẳng ai chịu ai…

Cuối cùng Thạch Sùng đưa ra viên ngọc và nói: “Viên ngọc này mùa nóng đeo vào thì mát, mùa rét đeo vào thì ấm. Trong thiên hạ chỉ có một không có hai”. Họ Vương không chịu hỏi Thạch Sùng: “Nhà ngươi giàu thật nhưng đầy mà không đủ. Thế nào trong nhà ngươi cũng còn thiếu nhiều…”. Thạch Sùng vênh mặt: “Nhà ta không thiếu một đồ vật gì cả. Nếu ngươi chỉ ra được một vật mà ta thiếu ta sẽ mất với nhà ngươi tất cả gia sản. Trái lại, nếu ta có đủ thì ngươi cũng mất như vậy!”.

Họ cùng ký giao ước trước cả triều đình làm chứng. Ký xong, họ Vương lạnh lùng: “Hãy đưa mẻ kho của nhà ngươi ra!”. Thạch Sùng choáng váng. Mẻ kho là thứ nồi đất mẻ chỉ nhà nghèo khổ như hắn thời xưa mới dùng. Từ khi giàu có hắn đâu còn dùng thứ ấy nữa. Đau đớn tột cùng vì thua cuộc, quá tiếc của, hắn biến thành con thạch sùng suốt ngày chặc lưỡi…

Tuy là cổ tích nhưng có kết cấu khá hiện đại chứng tỏ truyện ra đời vào thời kỳ phong kiến hưng thịnh chấp nhận và khuyến khích nghề buôn. Truyện triệt để khai thác hình thức tương phản và phép tăng cấp tạo sự hồi hộp ở độc giả rồi kết thúc bất ngờ tạo nên một hiệu ứng thẩm mỹ giàu ý nghĩa. Tương phản hai nhân vật họ Vương và Thạch Sùng, kẻ thua người thắng.

Tương phản trong con người Thạch Sùng, trước nghèo kiết sau giàu sang, trước ăn mày sau thành quận công. Rồi đột ngột thành “thạch sùng”… Phép tăng cấp từ hình ảnh bắt đầu là khoe là đọ đồ đạc gia sản ít giá (lụa là, thóc gạo) đến quý giá (vàng ngọc, sừng tê giác) đến của lạ, của hiếm (ngựa “thiên lý”, hươu hai đầu). Đi cùng là phép tăng cấp tâm lý về sự khoe khoang, từ sự thích “thể hiện” đến cay cú và cuối cùng là cuồng vọng mất hết lý trí. Xét kỹ đây là một canh bạc “tất tay” để rồi con bạc “khát nước” đến “chết cháy”!

Là cổ tích nên vẫn phải có cái môtip “ở ác gặp ác”. Thạch Sùng xứng đáng nhận cái kết ấy, xứng đáng phải như thế! Truyện khuyên răn: đừng hợm hĩnh khoe khoang. Bệnh khoe khoang sẽ dẫn đến cái chết!

Nằm trong tập quán canh tác lúa nước, lăn lộn với ruộng đồng “bán mặt cho đất bán lưng cho giời” mới có miếng ăn nên người Việt quý trọng thành quả lao động “một nắng hai sương”, chuộng sự thật thà “Thật thà là cha quỷ quái”.

Như lẽ tự nhiên người ta rất ghét kẻ ăn bám, không ưa người buôn “Thật thà cũng thể lái trâu”. Đã ăn bám, đã đi buôn lại giàu có thì càng bị ghét. Nông dân ghét. Kẻ sĩ ghét, nhất là giới nhà Nho quen với những tấm gương đạo hiếu, đạo làm người tử tế nơi “cửa Khổng sân Trình” thì ghét cay ghét đắng. Câu chuyện này là một sự minh hoạ cho tâm lý ấy.

Thạch Sùng và họ Vương đọ của!
Thạch Sùng và họ Vương đọ của!

Thạch Sùng làm cái nghề mạt hạng nhất trong mọi nghề là ăn mày. Nhưng nó có “cái đức” của nghề đi buôn: biết đầu cơ tích trữ, biết nhìn ra và biết đón cơ hội, biết tính toán mua rẻ bán đắt, biết “thông đồng” móc ngoặc (với cả kẻ xấu), biết hối lộ…Nguyên tắc “dồn tụ” này đã tạo ra một Thạch Sùng có “trí” (của kẻ buôn) nhưng không có “tâm” (của người quân tử). Thế nên nó phải chết, chết cay chết đắng, chết còn phải biến thành con thạch sùng suốt ngày kêu tiếc của…

Chi tiết “cái mẻ kho” rất đắt. Dưới góc độ kết cấu nó là đỉnh điểm, là cái nút thắt đầy kịch tính mở ra lối thoát cho tình huống căng thẳng chả ai chịu ai, chưa biết ai thắng ai. Một chi tiết đầy bất ngờ mà hợp lý. Dưới góc độ ý nghĩa nó như cái gương để độc giả soi mình vào đó: con người ta đừng bao giờ quên quá khứ, dù đó là quá khứ nghèo khổ. Nhiều khi nhờ cái nghèo khổ mà mình mới thành công!

Ý nghĩa phổ quát của nó là giáo dục, nhắc nhở lòng biết ơn, nhớ ơn, mà thiếu nó con người sẽ như cái cây không có cội rễ. Thạch Sùng khi giàu có không còn nhớ gì về thời đã qua nên bị trả giá!

Câu chuyện còn là một minh hoạ cho triết lý Nho gia: “Cao nhân tất hữu cao nhân trị” (Người cao tay tất sẽ có người cao tay hơn trị). Câu này răn người ta biết mình (tri kỷ) biết người (tri bỉ), khiêm tốn.

Chi tiết “trông thấy hai con trâu từ dưới sông lội lên và húc nhau chí tử” rất đáng chú ý. Đây là phái sinh từ tín ngưỡng của lễ hội chọi trâu của cư dân nông nghiệp với mục đích cầu mưa. Như vậy có thể tìm thời điểm ra đời truyện này gắn liền với tục chọi trâu của ta.

Dễ thấy truyện ra đời muộn, có sự nhuận sắc rõ của nhà Nho. So sánh truyện với truyện của Trung Quốc càng khẳng định việc này. Truyện của Trung Quốc là một truyện lịch sử, có thật. Thạch Sùng tự Quý Luân, sống thời Tấn Võ Đế, nổi tiếng thông minh từ nhỏ, hơn 20 tuổi làm huyện lệnh Tu Vũ, từng là thứ sử Kinh Châu, sống cực kỳ xa hoa. Gia thần của Tướng quốc Tư Mã Luân muốn cướp vợ thiếp của Thạch Sùng là nàng Lục Châu nên vu cho Sùng làm phản. Thạch Sùng bị giết. Gia sản bị tịch thu…

So sánh với truyện của ta thì hoàn cảnh, thân thế, sự nghiệp của Thạch Sùng (Trung Quốc) hoàn toàn khác. Trung Quốc cũng có truyện cổ tích tên “Thạch Sùng” lấy nguyên mẫu từ sự thật ngoài đời. Nhân vật Thạch Sùng cũng giàu có tới mức nhà xí của ông ta như phòng ngủ nhà giàu khác “bên trong có một chiếc giường rộng, chăn chiếu trên giường bày biện rất sang trọng, hai bên có hai tỳ nữ xinh đẹp tay cầm túi hương đứng hầu”.

Thạch Sùng còn làm giàu bằng cách giết người cướp của. Truyện của ta “nhẹ” hơn, Thạch Sùng chỉ “thông đồng” với kẻ cướp! Đặc biệt có chi tiết rất ghê rợn xa lạ với văn hoá Việt thì được cắt bỏ hoàn toàn là: Thạch Sùng mời Vương Khải (tức nhân vật họ Vương) đến nhà cùng xem báu vật. Vương Khải ngây ngất trước sắc đẹp của người vợ lẽ Thạch Sùng múa hầu rượu...

Lát sau, nhà bếp bưng lên một món canh, trông tựa như chân giò, Vương Khải nếm vẫn không biết là canh gì. Thạch Sùng cười nói đó là bàn chân người vừa múa lúc nãy. Vương Khải thất kinh, Thạch Sùng nói tiếp những người như thế trong nhà tôi có tới mấy nghìn, hôm khác xin đưa sang cho ông tẩm bổ…!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).