“Truyện Kiều” nhìn từ những giấc mơ

“Truyện Kiều” – kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du đã trở thành một cái tên quen thuộc với người Việt suốt hơn 200 năm qua. Cũng trong hai thế kỷ qua, đã có hàng ngàn công trình lớn nhỏ, từ chuyên luận cho tới các bài viết bàn về đủ các góc cạnh của “Truyện Kiều”. Thế nhưng, với những người say mê tác phẩm kinh điển này, Truyện Kiều vẫn tiếp tục là một miền đất hứa hẹn những khai phá mới, những điểm nhìn mới.

Trong bài viết này, chúng tôi muốn góp thêm một góc nhìn còn chưa được những người nghiên cứu đi trước chú ý, đó là nhìn “Truyện Kiều” từ những giấc mơ.

1. Giấc mơ (còn có thể gọi tên là mộng hay chiêm bao) được hiểu là những sự việc/con người được bắt gặp trong giấc ngủ. Nói cách khác, mơ trong tương phản với tỉnh/thức được hiểu là một đời sống khác của tất cả mọi người. Đứng từ góc nhìn của những người theo chủ nghĩa Phân tâm học do Sigmund Freud (1856 - 1939) khởi xướng, giấc mơ được coi là một trong những định đề/ chìa khóa quan trọng để nghiên cứu văn chương cùng nhiều ngành nghệ thuật khác. Bởi lẽ, theo phân tâm học, giấc mơ phản ánh miền vô thức trong não bộ, là những dồn nén của mong muốn và ẩn ức. Nói một cách khác, giấc mơ phản ánh những miền cảm xúc thuộc tiềm thức con người. Đối với đời sống văn hóa tâm linh của nhiều người Việt, giấc mơ còn gắn với những điều thần bí, kì diệu liên quan đến niềm tin tâm linh.

Thì đây, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du đã có rất nhiều những biểu hiện về giấc mơ trải khắp từ đầu đến cuối tác phẩm. Những giấc mơ này tạo nên những tham dự quan trọng vào diễn biến cốt truyện và gắn chặt với cuộc đời của nhân vật chính – Thúy Kiều. Giấc mơ đầu tiên là giấc mơ của Thúy Kiều gặp Đạm Tiên sau khi đi tảo mộ cùng hai em về, được Nguyễn Du diễn tả bằng 30 câu lục bát, từ câu 185 đến câu 214: “Chênh chênh bóng nguyệt xế mành/ Tựa ngồi bên triện một mình thiu thiu/ Thoắt đâu thấy một tiểu kiều/ Có chiều phong vận có chiều thanh tân/ Sương in mặt tuyết pha thân/ Sen vàng lãng đãng như gần như xa/ Rước mừng đón hỏi dò la/ “Đào nguyên lạc lối đâu mà đến đây?”/ Thưa rằng: “Thanh khí xưa nay/ “Mới cùng nhau lúc ban ngày đã quên?/ “Hàn gia ở mé tây thiên/ Dưới dòng nước chảy bên trên có cầu/ Mấy lòng hạ cố đến nhau/ Mấy lời hạ tứ ném châu gieo vàng/ Vâng trình hạ chủ xem tường/ Mà sao trong sổ đoạn trường có tên/ Âu đành quả kiếp nhân duyên/ Cũng người một hội một thuyền đâu xa/ Này mười bài mới, mới ra/ Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời”/ Kiều vâng lĩnh ý đề bài/ Tay tiên một vẫy đủ mười khúc ngâm/ Xem thơ nức nở khen thầm/ Giá đành tú khẩu cẩm tâm khác thường/ Ví đem vào tập đoạn trường/ Thì trao giải nhất chi nhường cho ai?”/ Thềm hoa khách đã trở hài/ Nàng còn cầm lại một hai tự tình/ Gió đâu sịch bức mành mành/ Tỉnh ra mới biết rằng mình chiêm bao”.

Giấc mộng này như một chỉ dấu báo trước về tương lai của Thúy Kiều. Đó là “sổ đoạn trường có tên”, là “người một hội một thuyền” với Đạm Tiên. Có thể thấy, chính sự báo mộng này cho ta thấy cái nhìn về thuyết thiên mệnh/ tiền định theo quan điểm của Nguyễn Du. Bản thân nhân vật chính Thúy Kiều cũng tin vào mộng triệu, nên khi tỉnh giấc mới khóc lóc thở than cùng cha mẹ: “Buổi ngày chơi mả Đạm Tiên/ Nhắp đi thoắt thấy ứng liền chiêm bao/…Cứ trong mộng triệu mà suy/ Thân con thôi có ra gì mai sau”.

chân dung thúy kiều và thúy vân.jpg -0
Tranh chân dung Thúy Kiều và Thúy Vân - nguồn internet.

Sau cơn gia biến, Thúy Kiều phải bán mình chuộc cha và thất thân cùng Mã Giám Sinh. Khi về tới lầu xanh của Tú Bà ở Lâm Truy, bị Tú Bà thị uy và quát gia nhân đánh đập, Kiều đã rút dao tự sát và ngất đi. Giấc mơ thứ hai của Kiều xuất hiện và được tả trong 10 câu thơ, từ câu 993 đến câu 1002: “Nào hay chưa hết trần duyên/ Trong mê dường đã đứng bên một nàng/ Rỉ rằng: “Nhân quả dở dang/ Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao/ Số còn nặng nghiệp má đào/ Người dù muốn quyết trời nào đã cho/ Hãy xin hết kiếp liễu bồ/ Sông Tiền Đường sẽ hẹn hò về sau”/ Thuốc thang suốt một ngày thâu/ Giấc mơ nghe đã dầu dầu vưà tan”. Cũng  có thể xem đây là lần thứ hai Thúy Kiều gặp Đạm Tiên trong mơ, nghe lời khuyên nhủ và tiên báo về cái hẹn bên sông Tiền Đường.

Sau giấc mộng lần thứ hai này, Thúy Kiều trải qua 15 năm lưu lạc với hàng  loạt các biến cố: từ việc gặp gỡ Thúc Sinh, được chuộc khỏi lầu xanh đến việc bị Hoạn Thư đánh ghen; từ việc rơi vào lầu xanh lần thứ hai đến việc gặp và kết duyên cùng Từ Hải, được Từ Hải giúp báo ân báo oán. Rồi Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến lập mưu chiêu hàng sát hại, Thúy Kiều khi bị ép gả cho viên thổ quan đã nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn.

Giấc mơ thứ ba của Thúy Kiều xuất hiện khi tự vẫn mà không chết và được Giác Duyên cứu kịp thời: “Giác Duyên nhận thật mặt nàng/ Nàng còn thiêm thiếp giấc vàng chưa phai/ Mơ màng phách quế hồn mai/ Đạm Tiên, thoắt đã thấy người ngày xưa/ Rằng: “Tôi đã có lòng chờ/ Mất công mười mấy năm thừa ở đây/ Chị sao phận mỏng phúc dày/ Kiếp xưa đã vậy lòng này dễ ai/ Tấm thành đã thấu đến trời/ Bán mình là hiếu, cứu người là nhân/ Một niềm vì nước vì dân/ Âm công cất một đồng cân đã già/ Đoạn trường sổ rút tên ra/ Đoạn trường thơ phải đưa mà trả nhau/ Còn nhiều hưởng thụ về lâu/ Duyên xưa tròn trặn phúc sau dồi dào”.

Giấc mơ thứ ba này cũng đồng thời khép lại vận hạn của nàng, khép lại những năm tháng sóng gió lưu lạc. Tên Kiều trong sổ đoạn trường đã được xóa đi, và như lời Đạm Tiên thì từ nay về sau mọi điều đều tốt đẹp. Đó cũng là một kết thúc có hậu, phản ánh ước mơ ngàn đời như trong những câu chuyện cổ tích của người Việt, rằng người tốt cuối cùng phải được hưởng cuộc sống bình an, hạnh phúc.

Ba giấc mơ của Thúy Kiều trải đều trong các phần của tác phẩm, đều là những cuộc gặp gỡ trong mơ với một người duy nhất: Đạm Tiên. Lần theo những giấc mơ này, có thể thấy đây là những nút thắt – mở vô cùng quan trọng trong diễn biến truyện, đồng thời ít nhiều phản ánh nhân sinh quan/ thế giới quan của Nguyễn Du. Có thể thấy Nguyễn Du rất tin vào một đời sống khác – một đời sống tâm linh bên cạnh đời sống trần thế/ trần tục của mỗi chúng sinh. Đời sống tâm linh ấy luôn đồng hành và dõi theo đời sống trần thế, có những tác động quan trọng đến đời sống trần thế của mỗi người. Đối với trường hợp Thúy Kiều, đời sống tâm linh qua sự chỉ dẫn của Đạm Tiên đã tạo ra cả một định hướng cho cuộc đời Thúy Kiều.

2. Câu chuyện về những giấc mơ trong “Truyện Kiều” vẫn chưa dừng lại. Giấc mơ không chỉ đến với Thúy Kiều mà còn đến cả với những nhân vật khác như Kim Trọng và Thúy Vân. Với Kim Trọng, sau lần được gặp mặt chị em Thúy Kiều ở lễ tảo mộ đã thầm thương trộm nhớ Kiều, ngày đêm tơ tưởng đến nàng. Và Nguyễn Du cũng đã tặng cho chàng Kim một chữ “chiêm bao” đầu tiên: “Mây Tần khóa kín song the/ Bụi hồng liệu nẻo đi về chiêm bao”.

Đến khi hai người đã gặp được nhau, bày tỏ tình cảm và tự đính ước, thì hạnh phúc này cũng được diễn tả như một giấc mộng diệu kỳ: “Bâng khuâng đỉnh Giáp non Thần/ Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng/ Nàng rằng “Khoảng vắng đêm trường/ Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa/ Bây giờ rõ mặt đôi ta/ Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”. Sau này, trên bước đường lưu lạc, Thúy Kiều cũng có những giấc mơ hướng về quê nhà, hướng về chàng Kim thuở nào: “Mối tình đòi đoạn vò tơ/ Giấc hương quan luống lần mơ canh dài”.

Chàng Kim sau khi chịu tang chú, trở lại vườn xưa tìm Kiều thì mới biết nàng đã lưu lạc phương trời. Chữ “chiêm bao” một lần nữa được dùng cho Kim Trọng để diễn tả nỗi đau khổ đến tột cùng của chàng: “Thẫn thờ lúc tỉnh lúc mê/ Máu theo nước mắt hồn lìa chiêm bao”.

Thúy Vân thay chị kết duyên cùng Kim Trọng, phần nào vơi đi nỗi đau đớn trong lòng chàng Kim. Từ trước đến nay, khi bàn luận về “Truyện Kiều” nói chung và Thúy Vân nói riêng, nhiều ý kiến vẫn đánh giá Thúy Vân là cô gái vô tâm, mặc nhiên lấy Kim Trọng rồi ăn no ngủ kỹ, sinh một đàn con. Nhưng không, khi đọc  lại “Truyện Kiều” và nhìn “Truyện Kiều” từ tiêu điểm giấc mơ, tôi nhận ra Thúy Vân cũng không nguôi nhớ đến chị và nàng cũng đã nằm mơ về Kiều. Một chữ “chiêm bao” vì thế được dành cho Thúy Vân: “Phòng xuân trướng rủ hoa đào/ Nàng Vân nằm bỗng chiêm bao thấy nàng/ Tỉnh ra mới rỉ cùng chàng/ Nghe lời, chàng cũng hai đường tin nghi”.

Chữ “chiêm bao” cuối cùng được Nguyễn Du sử dụng trong “Truyện Kiều” là chữ “chiêm bao” dành cho tất thảy mọi người, khi đại gia đình tìm được Thúy Kiều sau 15 năm lưu lạc: “Tưởng bây giờ là bao giờ/ Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao”. Chữ “chiêm bao” này vì thế là một hạnh phúc dẫu muộn màng, mừng mừng tủi tủi nhưng cũng là một cái kết mong ước cho tất cả những độc giả theo dõi thiên truyện.

Nhìn “Truyện Kiều” từ những giấc mơ, có thể thấy Nguyễn Du đã 8 lần sử dụng chữ “chiêm bao”, bên cạnh đó là các cách diễn đạt khác như: mộng triệu, mộng huyễn, giấc mộng, mê, thần mộng (2 lần), giấc hương quan, giấc vàng; tất cả góp phần làm nổi bật thế giới tinh thần, cảm xúc và tâm trạng của các nhân vật. Cũng qua những diễn đạt về giấc mơ trong “Truyện Kiều”, một thông điệp/ gửi gắm mà chúng tôi cảm nhận được, đó là đời người phải chăng cũng như một giấc mộng lớn mà thôi, trong mỗi giấc mộng lớn lại bao gồm những giấc mộng nhỏ. Điều quan trọng nhất là mỗi người cần sống bằng một thiện căn, bởi “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.