“Truyện Hà Ô Lôi” từ góc nhìn văn hoá

“Truyện Hà Ô Lôi” in trong “Lĩnh Nam chích quái” (chích có nghĩa nhặt nhạnh, thu nhặt; quái có nghĩa lạ, kỳ lạ. Tên sách có nghĩa là thu nhặt những truyện kỳ lạ ở Lĩnh Nam), tập truyện gồm 23 truyện ra đời từ thế kỷ XV do hai tác giả Vũ Quỳnh và Kiều Phú biên soạn từ truyền thuyết và truyện cổ tích. 

Học giả Lê Quý Đôn trong “Kiến văn tiểu lục” cho rằng Trần Thế Pháp là người đầu tiên có công biên soạn. Ngay Vũ Quỳnh trong bài tựa “Lĩnh Nam chích quái” cũng khẳng định sách này “viết ra đầu tiên là những bậc tài cao học rộng ở đời Lý, Trần”.

Về sau nhiều tác giả khác tiếp tục biên soạn, chỉnh lý, bổ sung, như đến thế kỷ XVI Nguyễn Hàng soạn và đổi tên sách thành “Thiên Nam vân lục liệt truyện”, tổng số truyện lên đến 70. Đến thế kỷ XIX, một tác giả khuyết danh đổi thành “Mã Lân dật sử”.

Ngày nay truyện phổ biến nhất vẫn là tập của Vũ Quỳnh và Kiều Phú. Như tên gọi, tập sách là những truyện lạ kỳ mang chứa những trầm tích văn hoá rất cần được đào sâu, cắt nghĩa, phân tích để làm phát lộ những ý nghĩa mới. “Truyện Hà Ô Lôi” là một truyện đặc sắc, mà những truyện hay thường đa nghĩa, nhiều cách hiểu. Bài viết này, dưới góc nhìn văn hoá xin đưa thêm một cách lý giải.

Truyện kể viên quan Đặng Sĩ Doanh đi sứ Trung Quốc để vợ Vũ thị ở nhà. Thần Ma La hoá phép giống y thật Sĩ Doanh mà làm chuyện ân ái chồng vợ. Vũ thị đẻ ra một Ô Lôi đen bóng. Ở “Thiên Nam vân lục liệt truyện” sau này kể còn cụ thể, ly kỳ hơn: “Vũ thị sinh một bọc đen, bọc nở ra một bé trai, da đen như mực, vì thế đặt tên là Ô Lôi.

Vì vị thần đó không có họ, bèn lấy chữ Hà làm họ. Ô Lôi tuy đen nhưng nó nhẵn láng như mỡ”. Hình tượng nở ra từ cái bọc thì là một mã, một môtíp quen thuộc trong truyền thuyết, cổ tích. Kể lại cái quen thuộc, phải chăng đó là một nguyên nhân để tập sách này ít được chú ý…

Tại sao thần có tên gọi Ma La? Mang mã văn hoá gì? Có mấy cách hiểu sau, một là liên quan đến nhân vật Đặng Ma La, đỗ Thám hoa năm 1247 đời Trần quê Tốt Động, Chương Mỹ, Hà Tây (cũ); hai là, theo truyền thuyết thì có người đàn bà ướm bàn chân vào vết chân lạ ở gò La nên có thai mà sinh ra nên đặt tên là Ma La, ý nói do con ma ở gò La sinh ra; ba là, hai chữ Ma La có nguồn gốc từ làng Quán La cổ, nay là xã Xuân La, huyện Từ Liêm (cũ), một làng gốc Chàm…

Tranh minh họa Tạ Huy Long.
Tranh minh họa Tạ Huy Long.

Tên nhân vật là Ô Lôi có người giải thích theo nghĩa chữ Hán là Sấm Đen (Ô có nghĩa là đen, Lôi có nghĩa là sấm), có liên quan đến Ấn Độ giáo và Phật giáo. Lại có giải thích Ô là đen, còn Lôi là Lồi, để chỉ một nguồn gốc Chăm pa… Có nhiều ý hiểu khác nhau nhưng thống nhất ở chỗ coi truyện này là sản phẩm của giao lưu tiếp biến văn hoá tôn giáo, bản địa-ngoại lai, là sự kế thừa, tích hợp, bổ sung thêm các mã mới của văn hoá dân gian…

Về nội dung truyện đã có nhiều cách giải thích. Theo chúng tôi, cần đưa truyện này vào hệ mỹ học Nho gia để tìm hiểu. Vì sao vậy? Vì tuy có nguồn gốc truyền thuyết cổ tích nhưng truyện được viết lại dưới ánh sáng của mỹ học nhà Nho và sự thật các tác giả biên soạn đều là các nhà Nho tên tuổi, trừ Trần Thế Pháp có tư liệu ít ỏi nhất, sống khoảng trước thế kỷ XV, hiệu Thức Chi, quê Thạch Thất (Hà Nội ngày nay), còn lại tiểu sử đều rõ ràng và nổi tiếng. Mà mỹ học Nho gia có một đặc trưng là hay châm biếm, mát mẻ sâu cay, hay mượn cái này để mỉa mai cái khác.

Tại sao các nhà Nho không sáng tác truyện mới để phục vụ cho ý đồ nghệ thuật của mình? Vì nằm trong truyền thống “Thuật nhi bất tác” (kể lại chứ không sáng tạo mới) thế nên với họ thì cái gì ở thời quá khứ cũng đều hay, đều tốt, đều chuẩn mực hơn hiện tại. Thơ văn cổ đầy rẫy điển cố, điển tích có một phần từ lý do ấy.

Từ góc nhìn này chúng tôi cho rằng, mục đích chính của truyện là phê phán, lên án chuyện dâm sắc. Cũng cần thấy truyền thống văn học Việt Nam không coi trọng tình yêu nam nữ, mà dễ thấy ít có tình yêu đẹp được miêu tả. Đối tượng chính để cười cợt trong truyện tiếu lâm dân gian là chuyện sinh hoạt trai gái, là những bộ phận sinh dục, là những hành vi tục tĩu…

Ngay mối tình Kim - Kiều của cụ Nguyễn Du đẹp như thế mà vẫn có nhà Nho gọi đó là chuyện “tà dâm”, Kiều là “con đĩ”… Người ta nhìn chuyện tình yêu mang tính tiêu cực là “tiếng dâm” với “hoang dâm”, “tà dâm”, “dâm dục”, “đĩ thoã”… Có một nguyên nhân chính là ý thức hệ Nho giáo chi phối sâu sắc đời sống văn hoá làm người ta nhìn chuyện đó một cách lệch lạc, không đúng với bản chất thiêng liêng. Nhất là ở “Truyền kỳ mạn lục” thì truyện dâm sắc còn bị lên án dữ dội hơn nhiều.

Nhân vật “nghịch dị” Hà Ô Lôi mang tính tiêu biểu cho cơ sở tạo tiếng cười là mâu thuẫn, giữa hình thức xấu xí (đen như mực, da bóng như mỡ) với nội dung tốt đẹp (nhanh nhẹn, lém lỉnh, văn chương thi phú, điệu khúc ca ngâm đều hay), được vua yêu quý và các phụ nữ si mê; giữa nội dung với nội dung (không biết chữ mà lại giỏi văn chương).

Hà Ô Lôi như một nghịch lý của cuộc sống, người dân kinh kỳ vừa thích thú với hình ảnh của nó, với việc nó làm, lại vừa sợ nó. Người ta truyền khẩu câu ca: “Mang mang mặt mắt cháy ma lem/ Kẻ Chợ khát, người qua mới thèm/ Nhẫn có hoàng kim thanh sắc ấy/ Mang mang mặt mũi thế soi xem”.

Hình như truyện này muốn đưa ra một quy luật giữa bao nhiêu thuận lý con người ta phải chấp nhận những nghịch lý khó lý giải. Hình tượng Trương Chi cũng đầy mâu thuẫn nhưng là mâu thuẫn của bi kịch nên truyện “Trương Chi” của dân gian chỉ có nước mắt, còn “Hà Ô Lôi truyện” là mâu thuẫn của những bi hài kịch bác học nên truyện này làm người ta thấy cuộc đời vừa đáng buồn, lại vừa đáng cười.

Từ đó mà suy ngẫm về thói nhân tình, ngẫm kỹ lại thấy tiếng cười mang tính phổ quát không chỉ hướng vào một ai, mà còn hướng vào cuộc đời nói chung. Xuất thân nô tỳ lại xấu xí nhưng nhờ hát hay mà được vua yêu, yêu đến mức “đãi như khách quý”, chưa đủ còn được vua coi như báu vật đến mức vua thông báo với triều thần thấy Ô Lôi gian phạm tới nhà ai, bắt được đem trả vua sẽ được đền một nghìn quan, nếu giết chết phải bồi thường một nghìn quan.

Tiếng cười hướng đến trước hết là vua, có năng lực trình độ thẩm mỹ kém, nuông chiều cái xấu, nhỏ nhen (sai Ô Lôi đi quyến rũ Quận chúa - A Kim - để trả thù Quận chúa từ chối gian díu với vua). Cười các phụ nữ chỉ biết yêu bằng tai mà không biết yêu bằng mắt (Ô Lôi quyến rũ nhiều phụ nữ, cả Quận chúa lá ngọc cành vàng, giàu có, sang trọng, rất đẹp, rất kiêu căng, dám từ chối cả vua), mê muội mà yêu khi dư luận cả kinh thành ồn ào…

Cười mọi người nói chung bị thanh sắc cám dỗ mà cứ để một “hiện tượng” Ô Lôi tác oai tác quái, thậm chí còn lấy đó làm thích thú thoả tính hiếu kỳ… Cười Minh Uy Vương quan to trong triều, quyền hành (là anh ruột hoàng hậu Vi Từ) mà nham hiểm (khi Ô Lôi gian dâm với con gái mình, ông ta chưa giết Ô Lôi ngay, mà bẩm vua đã giết để tạo ra một vụ án giả, đưa vua vào “việc đã rồi”), tàn bạo (giết Ô Lôi bằng cách cho vào cối dùng chày giã chết)…

Dĩ nhiên cười Ô Lôi tham dâm sắc đến chết, là tay sai, nô lệ của vua, vua sai gì làm nấy… Chưa đủ căn cứ để khái quát hình tượng Ô Lôi là biểu trưng cho quan hệ Vua – Ô Lôi là quan hệ nghệ thuật phục vụ quyền lực (như có ý hiểu) nhưng rõ ràng hình tượng Ô Lôi mang tính đa nghĩa, hấp dẫn, mời gọi người đọc. Dưới góc độ tiếng cười thì truyện này là một nụ cười dân chủ đặc sắc, độc đáo trong văn học trung đại Việt Nam.

Chi tiết cắt nghĩa Ô Lôi hát hay là do Lã Đồng Tân nhổ nước bọt vào mồm Ô Lôi lúc nhỏ cần nhìn nhận dưới góc độ mã biểu trưng. Trong nhiều nền văn hoá, “nước bọt” là biểu tượng cho tính thiêng gắn liền với năng lực nói năng hoạt bát. Ở một vài truyện cổ của ta và Trung Quốc có chi tiết “uống hết một mo đờm” của ông tiên thì trở thành giỏi giang, nhất là về mặt ăn nói.

Trong truyện Lã Đồng Tân là một ông tiên tức biểu trưng cho Đạo giáo thần tiên, tức Ô Lôi là sản phẩm của tinh thần Đạo giáo. Như vậy truyện là sự giao thoa của các tôn giáo Nho, Phật, Đạo, cả Ấn Độ giáo. Ô Lôi chết là sự thắng thế của Nho giáo trước Đạo giáo?!

Truyện có “mẫu gốc” từ văn hoá dân gian, đến lượt nó lại trở thành “mẫu gốc” cho sau này. Ví như tục trước khi cô dâu vào nhà chồng thì người ta lấy chày giã thật mạnh, thật to vào cối, rồi bắt cô dâu bước qua cối giã gạo. Ngoài một tín ngưỡng phồn thực (chày dương, cối âm) còn là quan niệm sự đuổi tà ma chuyện dâm dục để đôi vợ chồng mãi chung thuỷ!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).