Trống vắng đời sống văn hóa các dân tộc ít người trong phim Việt?!

Vấn đề đưa văn hóa Việt vào điện ảnh không phải là mới. Nhiều bộ phim thuộc thế hệ đầu tiên của điện ảnh Việt Nam khai thác rất nhiều những chất liệu văn hóa sẵn có, đơn cử như phim “Bẽ bàng” (1935) được chuyển thể từ vở cải lương nổi tiếng “Nửa đời hương phấn”.

Và rồi, phải đến 84 năm sau, mới có sự manh nha tiếp nối trở lại trải qua một quãng thời gian văn hóa dân tộc có phần thua thế trên màn ảnh bạc, lại có một làn sóng những bộ phim mang đậm tính Việt xuất hiện trong một - hai năm nay, như: “Cô Ba Sài Gòn”, “Song Lang”, “Đảo của dân ngụ cư” v.v...

Tuy vậy, theo nhận định của cả công chúng và giới chuyên gia, nền điện ảnh Việt Nam vẫn chưa phát huy được toàn bộ tiềm năng văn hóa dân tộc. Những phim ra rạp hay chiếu trên truyền hình trong thời gian qua vẫn còn mang rất nhiều nét văn hóa ngoại lai, hay thậm chí là làm lại từ tác phẩm nước ngoài. Vì thế, quá nhiều việc chúng ta cần làm để xây dựng một nền điện ảnh mà khán giả nước ngoài chỉ cần xem qua cũng có thể nhận ra đó là phim thuần Việt, thấm đẫm hồn Việt. 

Việt Nam là một quốc gia rất may mắn khi có đến 54 dân tộc anh em cùng sum vầy đắp đổi hai chiều chia sẻ yêu thương cho nhau trên mảnh đất mang dáng hình chữ S. Một ai đó trong số chúng ta có thể dành cả đời để đi từ Bắc chí Nam, ấy thế nhưng người ta vẫn không thể khám phá cho bằng hết một cách tường tận những nét văn hóa độc đáo của từng dân tộc, chứ chưa nói đến các nghệ sỹ, những con người có nhiệm vụ đi hết chiều dài cuộc sống để tìm ra cái đẹp. Cuộc sống của những người Mông, Tày, Êđê, Giarai, Chăm, Khơme v.v... là một kho tàng vô giá để điện ảnh Việt Nam khai thác.

Một cảnh trong phim “Vợ chồng A Phủ”.
Một cảnh trong phim “Vợ chồng A Phủ”.

 Lịch sử điện ảnh Việt Nam không thiếu những tác phẩm xuất sắc về đề tài dân tộc ít người. Những phim như “Vợ chồng A Phủ”, “Đất nước đứng lên”, “Chuyện của Pao” v.v… đều đã gặt hái được nhiều thành công cả trong và ngoài nước. Các tác phẩm này đã mở ra một ô cửa sổ cho khán giả nhìn vào đời sống, tâm tư, tính cách, văn hóa… của  cư dân các dân tộc ít người vừa khác lạ mà cũng vừa gần gũi, từ đó thể hiện tinh thần phát triển “hòa hợp trong đa dạng” mang tính thuần Việt.

Nhưng thật tiếc, số tác phẩm điện ảnh như trên cho đến nay thật sự cũng chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Trong vòng hai mươi năm trở lại đây, phần nhiều các bộ phim về dân tộc ít người chịu chung một kịch bản: Sau nhiều năm lao động cực nhọc để lên ý tưởng, nghiên cứu, xin tài trợ và quay phim… cuối cùng thì tác phẩm cũng được ra rạp. Bộ phim nhận được sự đánh giá rất cao của giới phê bình trong nước và quốc tế, thậm chí có thể đoạt được nhiều giải thưởng danh giá. Thế nhưng khán giả lại tỏ ra thờ ơ với phim về dân tộc thiểu số.

Vấn đề mấu chốt ở đây là lợi nhuận. Làm phim về chủ đề văn hóa các dân tộc ít người thuần túy thì rất khó thu hút được khán giả. Trong khi đó, công đoạn lên ý tưởng, nghiên cứu và quay phim của những tác phẩm này lại vừa dài, vừa tốn kém.

Trong bối cảnh chi đầu tư cho phim điện ảnh ngày càng tăng, và một bộ phim lỗ cũng có thể “kéo sụp” một hãng phim, thật chẳng lạ gì khi các nhà biên kịch, đạo diễn sẽ tập trung ưu tiên những tác phẩm giải trí thuần túy, dễ kéo khán giả đến rạp. Họa hoằn lắm họ mới có tiền tài trợ từ Chính phủ hay các tổ chức để thực hiện một bộ phim về một dân tộc ít người nào đó.

Mà ngay cả khi có được tiền tài trợ, không phải lúc nào sản phẩm làm ra cũng sẽ xuất sắc. Nền điện ảnh Việt Nam đang trải qua một cuộc khủng hoảng thiếu kịch bản chất lượng. Vì các nhà biên kịch đang tự “đóng khung” trí tưởng tượng của mình nên kịch bản của họ đều thiếu vắng tính văn học. Rất nhiều bộ phim ngày nay thậm chí không có nổi một chi tiết biểu trưng cho toàn bộ tác phẩm.

Nhìn ra thế giới, ta sẽ tìm thấy những ví dụ phản biện góc nhìn “làm phim là vì tiền”. Trung Quốc là một ví dụ điển hình. Cả chính quyền lẫn giới điện ảnh Trung Quốc đều có ý thức xây dựng hình ảnh quốc gia trong các tác phẩm. Ngay cả thể loại phim cung đấu đã hơn 10 năm nay “làm mưa làm gió” trên màn ảnh nhỏ với “Diên Hy công lược”, “Hậu cung Như Ý truyện” và “Hậu cung Chân Hoàn truyện”… mới đây cũng bị giới nghệ sỹ tẩy chay và Tổng cục Điện ảnh Trung Quốc cấm trình chiếu do bóp méo sự kiện, nhân vật lịch sử.

Mảng phim điện ảnh đã vậy. Còn phim truyền hình Việt với vấn đề văn hóa các dân tộc ít người thì sao? Sự thật thì rất khó để tìm được một bộ phim truyền hình Việt Nam thực sự đi sâu khai thác được văn hóa của các dân tộc thiểu số, chứ chưa nói gì đến việc thành công, đạt tỷ suất người xem cao. Hầu hết các phim như “Đằng sau tội ác”, “Khoả nước sông Quy”, “Người đợi ở Pờ Sa”, “Đàn trời”, “Đi về phía mặt trời” hay như “Lặng yên dưới vực sâu” v.v… rốt cuộc cũng chỉ mới dừng lại ở việc “điểm mặt, chỉ tên” một số chi tiết bề ngoài mà không phản ánh một cách có chiều sâu những hiện tượng, biến đổi, vấn đề đang hằng ngày diễn ra trong đời sống văn hóa các dân tộc ít người.

Thế nên, có vẻ như một bộ phim mà để tâm dành mấy cảnh cho quần áo thổ cẩm, chợ phiên, hay món thắng cố… cùng lời thoại ngô nghê, kiểu như: “ầy dà”, “phải đi hết hai con dao quăng mới tới được cái bản đó đấy mày à”,  “mày nói thế là tao không ưng cái bụng đâu à” v.v… xem ra đã là một sự "ưu ái" lắm rồi và nó được nghiễm nhiên coi như một tác phẩm phản ánh “chân thực” đời sống văn hóa của một dân tộc (ít người) nào đó.

Ngoài lý do về tài chính như đã nói ở trên, việc phim truyền hình không phản ánh được đúng đối tượng của mình còn nằm trong một hiện tượng lớn hơn, đó là sự xa rời của giới nghệ sĩ với đời sống nhân dân. Trong những năm tháng chống Pháp, chống Mỹ, các nghệ sĩ sẵn sàng hăm hở đi thâm nhập thực tế với tinh thần “ba cùng” để được sống cuộc sống của đối tượng sáng tác. Tiếc thay, quá khứ đó nay đã trở nên rất xa lạ.

Nhật Bản có chính sách rất bài bản trong việc sử dụng phim để giới thiệu về dân tộc Ainu sống tại cực Bắc nước này.
Nhật Bản có chính sách rất bài bản trong việc sử dụng phim để giới thiệu về dân tộc Ainu sống tại cực Bắc nước này.

Một bộ phận rất lớn các nghệ sĩ không còn thích thú với việc thâm nhập thực tế để có được cái cơ may tiếp xúc trực tiếp với đối tượng mình cần sáng tác. Họ bằng lòng với việc ngồi trước máy vi tính trong phòng máy lạnh, “xào xáo” lại những gì hiện có để phục vụ riêng tầng lớp trung lưu thành thị mà họ là thành viên. Khi đó thì không chỉ chuyện tác phẩm về đời sống văn hóa của các dân tộc ít người thiếu tính chân thật, mà việc nền điện ảnh Việt Nam nói chung bị ảnh hưởng từ các yếu tố văn hóa ngoại lai cũng không có gì  là khó hiểu cả.

Có lẽ vì lý do đó cho nên mới  xảy ra một thực trạng đáng buồn là: Với những nghệ sĩ ngày nay nói riêng và người dân thành thị nói chung, những nét văn hóa lạ của nước ngoài  được chuyển tải thông qua các phương tiện như truyền hình và Internet lại có sức cuốn hút lớn hơn rất nhiều so với chính đời sống văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa các dân tộc ít người nói riêng.

Đã có một số ý kiến cho rằng, Việt Nam nên bắt đầu thực hiện những chính sách khuyến khích truyền tải những nét văn hóa dân tộc trong điện ảnh giống như các quốc gia khác đã - đang làm. Chẳng hạn như, tại Hàn Quốc và Thái Lan hiện nay đều có quỹ riêng hỗ trợ chi phí cho các bộ phim nói đến những chủ đề văn hóa như thời trang, ẩm thực, du lịch v.v…

Số tiền hỗ trợ hoàn toàn không là gì cả so với lợi nhuận thu được từ việc bán các sản phẩm nói trên cho khán giả trong và ngoài nước. Ở chiều ngược lại, chính quyền cũng có thể hành động để ngăn chặn những xu hướng làm xấu hình ảnh quốc gia, như trường hợp Trung Quốc đã nói ở trên.

Đây đều là những bước đi cần thiết và cần được thực hiện ngay. Tuy nhiên, chúng mới chỉ là một phần rất nhỏ trong một khung chiến lược tổng thể để tăng độ đại diện của văn hóa dân tộc các dân tộc ít người trong điện ảnh nói riêng và nghệ thuật nói chung. Đây là một chiến lược cần sự vào cuộc của toàn bộ xã hội, từ Nhà nước, các doanh nghiệp, báo chí, nghệ sĩ, và cả khán giả nữa.  Chìa khóa của vấn đề ở đây là tạo lập được một môi trường mà nhận thức của toàn thể xã hội có cơ hội tự thay đổi. Đó có thể là những việc rất nhỏ thôi, như một tờ báo dành riêng ra một cột phê bình các bộ phim trong nước; hay các biên kịch từ thành phố cộng tác với những nhà văn, nhà thơ, nhà báo tại địa phương để cùng sáng tác kịch bản.

Chúng ta đã - đang làm rất tốt công tác “xóa đói, giảm nghèo” cho bà con các dân tộc ít người. Tuy nhiên, việc tăng chất lượng sống cho người dân không chỉ gói gọn trong việc giúp đỡ bà con thoát nghèo, mà còn là đảm bảo đời sống tinh thần, và cao hơn nữa là tạo điều kiện để họ có thể tự hào và bảo tồn, gìn giữ được nền văn hóa bản sắc của mình.

Điện ảnh nói chung và phim truyền hình nói riêng chắc chắn chiếm một vị trí rất quan trọng trong quá trình này, điều đó chúng ta đều đã biết. Thể hiện được tinh thần cốt cách văn hóa của các dân tộc ít người trong các tác phẩm điện ảnh (và truyền hình) âu cũng là một biện pháp bảo tồn - phát triển bản sắc văn hóa thuần Việt một cách hữu hiệu nhất.

Lê Công Hội

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.