Cuối tháng 8 vừa qua, Hội Nhà văn Hà Nội đã tổ chức tọa đàm "Tiểu thuyết lịch sử - Những chuyển động" thu hút sự quan tâm của nhiều người đọc, người viết. Ở Việt Nam, tiểu thuyết lịch sử vốn vẫn được xem là một lãnh địa khó, với số người viết không nhiều. Những chuyển động tích cực về số lượng tác phẩm ra đời và sự tham gia của những cây bút đang được "trẻ hóa" trong thời gian gần đây là một tín hiệu vui cho văn giới.
Tham gia buổi tọa đàm "Tiểu thuyết lịch sử - Những chuyển động" trong vai trò diễn giả có 2 nhà văn thuộc hai thế hệ khác nhau nhưng chung niềm đam mê với tiểu thuyết lịch sử, đó là nhà văn Hoàng Quốc Hải và Phùng Văn Khai. Nhà văn Hoàng Quốc Hải là cái tên không thể không nhắc tới khi nói đến tiểu thuyết lịch sử bởi vì ông là chủ nhân của 2 bộ tiểu thuyết lịch sử đồ sộ là "Bão táp triều Trần" và "Tám triều vua Lý".
Nhà văn Phùng Văn Khai - Phó Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Quân đội đang ở độ tuổi sung sức và trong vòng gần 10 năm qua đã cho ra đời 7 tiểu thuyết lịch là: "Phùng Vương", "Ngô Vương", "Nam Đế Vạn Xuân", "Triệu Vương phục quốc", "Lý Đào Lang Vương", "Lý Phật Tử định quốc", "Trưng nữ Vương". Điều này cũng cho thấy sự bền bỉ, chuyên tâm của 2 nhà văn đối với đề tài lịch sử và đã có những đóng góp tích cực trong việc dựng nên "gương mặt" các triều đại gắn với những biến cố quan trọng của đất nước bằng văn học.
Đồng thời cho thấy, đề tài lịch sử chắc chắn phải có sức hút, sức hấp dẫn đặc biệt mới khiến nhà văn Hoàng Quốc Hải gần như đã dành cả cuộc đời mình để nghiên cứu, tìm hiểu và viết về lịch sử; còn nhà văn Phùng Văn Khai với gần 20 năm theo đuổi đề tài này và anh đang trên hành trình hoàn thiện tiểu thuyết lịch sử thứ 8 của mình.
Nhà văn Phùng Văn Khai phát biểu tại tọa đàm “Tiểu thuyết lịch sử - Những chuyển động” được Hội Nhà văn Hà Nội tổ chức cuối tháng 8/2023.
Tại buổi tọa đàm, nhiều câu hỏi đã được đặt ra và cũng có nhiều cách luận giải về tiểu thuyết lịch sử như: mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và dã sử, trong sáng tác tiểu thuyết lịch sử nhà văn được quyền hư cấu đến đâu, vai trò của tiểu thuyết lịch sử trong sáng tạo văn học nghệ thuật đương đại…
Theo chia sẻ của nhà văn Hoàng Quốc Hải - người từng được Hội Nhà văn Hà Nội tôn vinh với giải thưởng "Thành tựu văn học trọn đời" thì "Tiểu thuyết lịch sử không phụ thuộc vào chính sử hay dã sử mà phụ thuộc vào tài năng của nhà văn. Nhà văn vẽ nên gương mặt của lịch sử, của thời đại bằng văn học chứ không phải "đầy tớ" của các nhà viết sử. Lịch sử chỉ là "cái đinh" mà ở đó nhà văn treo lên bức tranh là tác phẩm văn học của mình. Tiểu thuyết lịch sử là sự hư cấu và không có giới hạn nào cả, nhưng trên cơ sở nhà văn phải làm chủ được lịch sử!".
Nhà văn Phùng Văn Khai chia sẻ rằng, sở dĩ anh dành nhiều tâm sức theo đuổi đề tài lịch sử không gì ngoài tình yêu đối với lịch sử và mong muốn tìm hiểu những "điểm mờ" mà chính sử của ta vì nhiều lý do không còn lưu dấu. Anh nhận định: "Thực ra, các vĩ nhân trong lịch sử cũng là con người, cũng có lúc sai, cũng có điểm xấu, nhưng khi viết về một vị vua thì nhà văn có hư cấu gì cũng là đưa nhân vật về gần với đời thường chứ không phải để thóa mạ nhân vật hay bôi đen, xuyên tạc lịch sử dân tộc. Hư cấu trong tiểu thuyết lịch sử dù gì cũng phải là hư cấu trên nền dân tộc, nền nhân dân. Người viết không được lợi dụng "quyền hư cấu", nhân danh văn học để xuyên tạc lịch sử hoặc nhân vật lịch sử…".
Chắc hẳn nhiều người còn nhớ, cách đây 20 năm, "Cuộc vận động sáng tác văn học nghệ thuật Thăng Long - Hà Nội ngàn năm văn hiến" được TP. Hà Nội phát động nhân kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội đã thu được nhiều thành quả đáng ghi nhận. Trong đó, sự ra đời của một số bộ tiểu thuyết lịch sử trong và sau cuộc vận động này đã để lại những dấu mốc đáng kể, thậm chí đã trở thành những tác phẩm có vị trí quan trọng trong sáng tác văn học đầu thế kỷ XX như: Bộ tiểu thuyết "Bão táp triều Trần" và "Tám triều vua Lý" của Hoàng Quốc Hải, "Hồ Quý Ly" và "Đội gạo lên chùa" của Nguyễn Xuân Khánh, "Bóng nước Hồ Gươm" của Chu Thiên, "Vằng vặc sao Khuê" và 14 tập dã sử của Hoàng Công Khanh, "Nắng kinh thành" của Siêu Hải…
Sau đó, có những năm tiểu thuyết lịch sử dường như khá vắng bóng và khoảng gần 10 năm trở lại đây mới có sự xuất hiện trở lại của những cây bút cũ và mới góp phần làm nên một dòng tiểu thuyết lịch sử đa sắc màu như: Trần Thùy Mai với 2 tập tiểu thuyết "Từ Dụ Thái Hậu", Lưu Sơn Minh với "Trần Quốc Toản" và "Trần Khánh Dư", Trường An với bộ 3 tiểu thuyết về thời Tây Sơn là: "Thiên hạ chi vương", "Vũ tịch", "Hồ Dương", Nghiêm Thị Hằng với "Tiếng vọng Hồ Xuân Hương", Lê Phương Liên với "Nữ sĩ thời gió bụi"… Đặc biệt, sự xuất hiện của Phùng Văn Khai với 7 tiểu thuyết lịch sử đã kể ở trên đã tạo nên một diện mạo tương đối đầy đủ về các triều đại đã có trong lịch sử dân tộc bằng văn học.
Có thể thấy, tiểu thuyết lịch sử ngoài những đóng góp về giá trị văn chương, còn có đóng góp với việc giáo dục, giảng dạy trong nhà trường cũng như giúp ích cho việc nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử. Chính vì thế, vấn đề sáng tác, nghiên cứu, lý luận phê bình văn học về đề tài này cần được quan tâm hơn nữa. Trong đó, cần có thêm các cuộc thi, cuộc vận động sáng tác văn học về đề tài lịch sử để khích lệ giới cầm bút chuyên nghiệp cũng như không chuyên tham gia.
Một số tiểu thuyết lịch sử được dư luận quan tâm trong thời gian qua.
Nhà văn Vũ Nho:
Tôi nhận thấy rằng: "Lịch sử cung cấp cho văn chương một nguồn tư liệu và cảm hứng dồi dào không bao giờ vơi cạn. Văn chương viết về lịch sử làm tăng tính thẩm mĩ, thêm phần mới mẻ và lãng mạn khi truyền tải thông điệp lịch sử. Các tác phẩm văn học viết về lịch sử là những tác phẩm vừa truyền tải được thông điệp lịch sử vừa có tư tưởng, triết lý riêng của nhà văn. Chính văn chương góp phần làm cho những giá trị lịch sử trở nên sâu sắc hơn nhờ vào những khám phá của nhà văn khi họ tự coi viết tiểu thuyết lịch sử là một hành trình thám hiểm cuộc sống không chỉ của quá khứ mà chính là hiện tại và hướng đến tương lai".
Nhà văn Đỗ Ngọc Yên:
Về mối quan hệ giữa sự thật lịch sử và hư cấu nghệ thuật, tôi cho rằng vấn đề ở đây không phải là được hay không được quyền hư cấu hay sự "so le" giữa sự thật lịch sử và hình tượng nghệ thuật mà là giới hạn của sự "so le" đó đến đâu và như thế nào để công chúng có thể chấp nhận được. Người nghệ sĩ có quyền hư cấu thông qua cảm xúc và tưởng tượng bằng những kinh nghiệm chủ quan của anh ta. Nói một cách chính xác hơn, anh ta hoàn toàn có quyền tái hiện lịch sử theo cách của riêng mình. Sẽ là sai lầm nếu ai đó cho rằng khi tái hiện những sự kiện và nhân vật lịch sử, người nghệ sĩ không được phép làm thay đổi lịch sử như nó vốn có. Ngay cả những cuốn biên niên sử đương thời hay hậu thế cũng không thể nào ghi chép một cách đầy đủ và chi tiết những sự kiện đã từng xảy ra. Bởi vì những sự thật đó được ghi chép lại còn bị các điều kiện kinh tế, chính trị, đạo đức, lịch sử và xã hội đương thời, cũng như tri thức, tầm hiểu biết và cái tâm của nhà chép sử chế định, nên tính nghiêm ngặt của lịch sử đã ít nhiều bị suy giảm. Theo tôi, vấn đề này đã được Nguyễn Xuân Khánh lý giải một cách khá thuyết phục qua sự hư cấu hình tượng nhà chép sử Văn Hoa trong tiểu thuyết "Hồ Quý Ly" của ông.
Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.
Nhà văn Phùng Văn Khai, sau nhiều năm thành công ở các lĩnh vực văn chương như truyện ngắn, tiểu thuyết, bút ký... thì năm nay, anh “lấn sân” sang lĩnh vực thơ ca với sự xuất hiện một tập thơ dày dặn “Thơ viết cho mình”.
Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.
Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.
Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.
Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.
Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.
Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).
Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.
Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).
Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".
Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".
“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.
“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.
Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.
“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.
Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.
Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.
Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).
Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).