Kỷ niệm 200 năm ngày mất Đại thi hào Nguyễn Du (16/9/1820 - 16/9/ 2020)

Tiếng thơ lay động cõi người...

Năm 2020 kỷ niệm 255 năm ngày sinh và tưởng niệm 200 năm ngày mất đại thi hào Nguyễn Du, ta lại nhớ đến bài thơ "Kính gửi cụ Nguyễn Du" của nhà thơ Tố Hữu viết năm 1965, khi nhà thơ vào tuyến lửa Quân khu IV.

Cũng năm đó, thế giới kỷ niệm 200 năm Ngày sinh của tác giả "Truyện Kiều" bất hủ. Thật lạ, tên của bài thơ trang trọng như một lời đề từ: "Kính gửi cụ Nguyễn Du" của một lớp hậu thế với một bậc tiền nhân, trong mạch cảm hứng tri ân sâu sắc: "Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân/ Bâng khuâng nhớ cụ thương thân nàng Kiều". 

Bài thơ có cả không gian địa lý và thời gian của tâm trạng viết theo thể thơ lục bát, trong đó trích dẫn một số câu trong "Truyện Kiều" gắn với tâm thế và bối cảnh của xã hội hiện tại. Đó cũng là một lối tập Kiều theo kiểu mô phỏng lời thơ "Truyện Kiều", cũng là mối giao cảm của thi nhân: "Tiếng thơ ai động đất trời". Ta lại càng hiểu thêm mối tơ duyên của bút hiệu Tố Như và bút danh Tố Hữu. Chỉ một câu thơ mà nhà thơ Tố Hữu đã dựng lại một loạt nhân vật phản diện trong Truyện Kiều: "Gớm quân Ưng Khuyển ghê bầy Sở Khanh".

Tượng đại thi hào Nguyễn Du ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh.
Tượng đại thi hào Nguyễn Du ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh.

Đọc lại những bài thơ viết về đại thi hào Nguyễn Du và "Truyện Kiều", ta thấy mỗi thi sĩ từ những trải nghiệm sống của mình đều có những tâm trạng, nỗi niềm riêng nhưng tất thảy đều có sự đồng vọng, đồng cảm, đồng tình của người xưa với người nay như nhà thơ Tố Hữu đã viết: "Mai sau dù có bao giờ/ Câu thơ thuở trước đâu ngờ hôm nay". Hay ông rất cảm thông, đồng cảm với đại thi hào: "Đau đớn thay phận đàn bà/ Hỡi ôi thân ấy biết là mấy thân". 

Nhà thơ Trương Nam Hương trong "Tâm sự nàng Thúy Vân" lại hóa thân thành nhân vật Thúy Vân để tâm sự cùng chị Thúy Kiều. Đây cũng là một tứ thơ độc đáo: "Chị yêu lệ chẳng đã đành/ Chớ em nước mắt đâu dành chàng Kim" để: "Em thành vợ của chàng Kim/ Ngồi ru nước mắt tượng hình chị trao". 

Đó là một bi kịch mà nhiều nhà sân khấu đã khai thác nhưng trong thơ chính là những cung bậc tâm tình, tâm cảm: "Là em nghĩ vậy thôi, Kiều/ Sánh sao đời chị ba chiều bão giông" với sự vị tha bao dung của người con gái Việt lấy từ cốt truyện của "Thanh Tâm tài nhân". Đó cũng chính là bút pháp thơ tài tình, sự trắc ẩn cảm thông của thi hào Nguyễn Du. 

Nhà thơ Lý Hoài Xuân, trong bài "Gặp Nguyễn Du ở bãi biển Nhật Lệ", đã viết: "Trong giấc mơ tôi gặp ông" khi mà: "Nỗi buồn thi nhân lớn hơn nỗi buồn ông Cai Bạ". Cuộc đời của thi nhân là một chuỗi thăng trầm để cuối cùng: "Tố Như thật khó hiểu/ Để lại cho đời cả núi thơ mà không để lại bức chân dung nào". Câu hỏi đó của Lý Hoài Xuân cũng là nỗi trăn trở trong lòng chúng ta. Vì thế bài thơ "Bên mộ cụ Nguyễn Du" của nhà thơ Vương Trọng đã có sự đồng cảm sâu sắc với bạn đọc: "Tưởng là phận bạc Đạm Tiên/ Ai ngờ cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây". Bây giờ thì khu mộ của Nguyễn Du đã xây lại khang trang, nhưng ngày đó Vương Trọng đến vẫn còn cảnh: "Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề". 

Trong tuyệt tác "Truyện Kiều", nhiều lần Nguyễn Du viết về thiên nhiên lấy cảnh để tả tình, với những câu thơ đặc sắc làm phong phú thêm vẻ đẹp của Tiếng Việt. Vì thế mà nhà thơ Vương Trọng đã khái quát một phẩm chất thi sĩ trong hồn cốt của đại thi hào "Trái tim lớn giữa thiên nhiên".

Đọc lại những bài thơ viết về Nguyễn Du, các nhà thơ tô đậm về thân phận cuộc đời lắm thâm trầm của ông. Đau đời sâu sắc để có sự cảm thông lớn lao của chủ nghĩa nhân văn, nhân đạo không chỉ của riêng mình mà rộng ra mang dấu ấn của cả thời đại. 

Đó chính là nỗi niềm của nhà thơ Võ Văn Trực trong bài: "Trước trang thơ Nguyễn Du": "Tiếng nàng như giọt máu rơi/ Lật nghiêng trang sách chói ngời nỗi đau", Nguyễn Du không chỉ nổi tiếng ở "Truyện Kiều" mà thơ chữ Hán của ông cũng là những viên gạch quý như: "Bắc Hành, Tạp Lục" trong lần đi sứ Phương Bắc. 

Có lẽ cội nguồn: Quê vợ ở Thái Bình, quê cha Hà Tĩnh và những năm tháng sống ở quê mẹ Kinh Bắc, hồn quê, hồn dân ca Việt đã ngấm vào ông như một mạch nguồn tinh hoa văn hóa Việt. 

Đặc biệt là làng Tiên Điền - Cái làng quê nghèo, thiên nhiên khắc nghiệt mà Yến Thanh đã viết trong "Lục bát Tiên Điền": "Làng tôi củ lạc thắt ngang/ Quả dưa buộc dọc cho chàng đi thi" đã hội tụ trong thi nhân cái quyết chí của tinh thần hiếu học, coi trọng chữ nghĩa để làm rạng danh văn chương nước nhà với một "Truyện Kiều" bất hủ.

"Truyện Kiều" đã đi vào lòng dân tộc, đã biến thể sang các hình thức sân khấu như trò Kiều và đặc biệt là cả tâm linh. Nhà thơ Anh Thơ trong bài "Bói Kiều" với giọng điệu thơ thủ thỉ tâm tình phảng phất chất đồng quê mộc mạc của một thời xa xưa đồng vọng hiện về: "Cô bói quẻ Kiều bên khóm Cúc/ Phòng riêng đêm ấy nở hoa đèn". 

Mới biết "Truyện Kiều" có biết bao cung bậc, bao linh nghiệm như là một điểm tựa của đời sống tinh thần và cao hơn đó là sự giao cảm từ trong sâu thẳm cõi người. 

Nhà thơ Trần Nhuận Minh trong một lần đi thăm Trung Quốc đã tìm đến những địa danh mà ngày xưa Nguyễn Du đã qua để bâng khuâng với một tâm trạng "Đến đâu con cũng gặp người/ Xin dâng chén rượu giữa trời Trung Hoa". Và ông bỗng nhận ra sức sống muôn đời của "Truyện Kiều": "Cỏ cây thành lũy khác rồi/ Hoàng Hà đã cạn, thơ người vẫn sâu". 

Đứng lặng bên sông Tiền Đường - Con sông của số phận chạy dọc "Truyện Kiều" với bao vơi đầy, bao thẳm sâu nước xiết, bao trắc trở trái ngang, Trần Nhuận Minh thảng thốt: "Tiền Đường sầm sập đêm mưa/ Nước âm u chảy như chưa vớt Kiều". 

Có thể nói, bóng dáng thi nhân và thân phận Thúy Kiều cứ đeo đẳng vào nhau, vận vào nhau, vào người, vào thơ đến cả đời sau các nhà thơ vẫn còn chưa trả hết món nợ của mối đồng tâm, đồng cảm như ý thơ của Nguyễn Công Ký trong bài "Về Giang Đình": "Xa xăm Kiều khuất hiên tây/ Tố Như vẫn tựa thang mây trông vời". 

Nhà thơ Hugari Holloandras có một tứ thơ khá độc đáo bằng một tư duy triết lý cô đọng mà vẫn ấm nồng của một trái tim đa cảm đã tải được rất nhiều thông điệp, ngắn gọn mà có sức gợi, sức ngân vang không chỉ những con chữ nữa mà bằng sự đồng vọng vượt qua biên giới địa lý để gặp nhau ở một tâm điểm của chủ nghĩa nhân văn sâu sắc trong bài thơ "Từ những điều Nguyễn Du dạy": "Anh đừng nói: Oan gia/ xin hãy nói: Tình thương cần họp mặt" hay: "Anh đừng nói: Báo ân/ xin hãy nói: tình người không thể cạn".

Có một mảng thơ mà nhiều người viết khi đến thăm mộ Nguyễn Du, kính dâng Thi Nhân một nén hương lòng, rót xuống mộ Thi Nhân một ly rượu ấm, đặt lên mộ một bó hoa tươi và thắp lên một ngọn - lửa - thơ sưởi ấm cả một mùa đông buốt giá như tâm tình của nhà thơ Vương Trọng: "Lặng yên bên nấm mộ rồi/ Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm". 

Hay như nhà thơ Hoàng Trung Thông trong bài "Thăm mộ cụ Nguyễn Du" đã tinh tế khi ông nhận ra: "Thật kỳ lạ nơi Nguyễn Du nằm đó/ Cũng cát vàng cồn nọ, bụi hồng dặm kia/ Cũng nấm mộ sè sè ngọn cỏ/ Trong trang Kiều tôi đọc dưới đèn khuya". 

Sinh thời Thi hào Nguyễn Du đã từng viết: "Bất tri tam bách dư niên hậu/ Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như" nghĩa là: "Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa/ Người đời ai khóc Tố Như chăng" cũng chính là nỗi niềm trăn trở của nhà thơ Thạch Quỳ trong bài "Viết bên mộ cụ Nguyễn Du": "Cụ không về trong mắt/ Cụ không nằm trong thơ/ Muốn hỏi hồn dưới đất/ Đã ngủ yên nấm mồ". 

Ta lại nhớ đến một nhận định khá tiên cảm của học giả Phạm Quỳnh từ những năm 30 của thế kỷ trước: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn". Vâng, đọc lại những bài thơ viết về Nguyễn Du và "Truyện Kiều" với "Tiếng thơ lay động đất trời", ta lại càng tin ở: "Hỡi người xưa của ta nay/ Khúc vui xin được so dây cùng người" (Tố Hữu). 

Bởi trong lòng của mỗi người dân Việt luôn có một Nguyễn Du mà nhà thơ Xuân Hoài trong bài thơ "Bên tượng cụ Nguyễn Du" đã ao ước: "Đừng dựng tượng Người với áo mũ cân đai/ Hãy để Người là chàng trai lên Trường Lưu hát ví/ Khi chiều hôm buồn trông cửa bể/ Lúc đi săn núi Hồng hay câu cá ở sông Lam".

Nguyễn Ngọc Phú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).