Tiếng ta có thì nên dùng tiếng ta

Bàn về bệnh nói chữ, Trong bài “Cách viết (Văn Hồ Chủ tịch - NXB Giáo dục Giải phóng, 1973), Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “…Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Cán bộ cũng hay dùng chữ lắm, dùng lúng túng, nhiều khi không đúng…”.

Bệnh nói chữ

Bàn về bệnh nói chữ, Trong bài “Cách viết (Văn Hồ Chủ tịch - NXB Giáo dục Giải phóng, 1973), Chủ tịch Hồ Chí Minh có viết: “…Các ông viết báo nhà mình hay dùng chữ quá. Những chữ tiếng ta có mà không dùng, lại dùng cho được chữ kia. Cán bộ cũng hay dùng chữ lắm, dùng lúng túng, nhiều khi không đúng…”. (1)

“Chữ” ở đây là chữ Hán. Nhiều người cứ thích dùng chữ Hán thay vì dùng từ tiếng Việt. Các tài liệu, các văn bản nhà nước vẫn thế: Không nói là “đi đường” mà lại nói là “tham gia giao thông”; không nói “chết, mất, qua đời…” mà lại nói là “tử vong”, không nói “hạn dùng” mà lại nói là “hạn sử dụng”… thậm chí có nhiều từ Hán chuyên biệt, quần chúng chẳng bao giờ nghe đến nhưng người ta vẫn cứ dùng. 

Các từ này vẫn xuất hiện nhiều trên sách báo, ngay cả trong các văn bản, tài liệu… Nhất là tài liệu, sách y khoa: Ví dụ người ta không nói là “Viêm màng bụng”, mà phải nói là “viêm phúc mạc”; không nói “động mạch cổ” mà phải nói là “động mạch cảnh”…; Bệnh nhân vào khám răng, bác sĩ răng phán: “viêm nha chu”… thật ra chỉ là viêm (nướu) chung quanh răng đấy thôi. Sao người ta không nói là “viêm quanh răng” hay “viêm nướu răng” cho dễ hiểu nhỉ?

Một tấm biển giao thông khá rườm rà, sai nghĩa.
Một tấm biển giao thông khá rườm rà, sai nghĩa.

Có lẽ lúc sinh thời, Bác đã không hài lòng lắm trước thói hay khoe chữ của cán bộ ta nên đã viết: “…Tiếng ta có thì không dùng, mà cứ ham dùng chữ Hán. Dùng đúng đã là một cái hại, vì quần chúng không hiểu. Nhiều người biết không rõ, dùng không đúng mà cũng ham dùng, cái hại lại càng to […]. Tục ngữ nói: “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”. Cái bệnh đó đã lây ra làm hại đến quần chúng. Vì vậy có người đã nói:

Chúng tôi xin thông phong” (xung phong).

Các đồng chí phải luyến ái nhau” (thân ái nhau) v.v….

Không, đó không phải là những chuyện cười, đó là chuyện thật. Những chuyện thật đau lòng, do bệnh hay nói chữ hoặc do bệnh dốt sinh ra” (3)

Tình trạng này xảy ra đã lâu và đến nay có lẽ ngày lại càng nặng hơn. Đọc báo ta dễ bắt gặp những câu chữ lê thê cùng những từ Hán rườm ra, nhằm khoe chữ một cách thật kì cục như sau: “…Nguồn tin từ Trung tâm Nghiên cứu và Bảo tồn Động vật hoang dã Việt Nam (Save Vietnams Wildlife - SVW) cho biết, vào ngày 6-3, anh Võ Huy Trung – Cháu trai cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp… đã phát hiện một cá thể cầy vòi hương tại khu vườn của ngôi nhà này trong tình trạng sức khỏe yếu. Anh Trung nhận định, rất có thể cá thể cầy vòi hương này là xổng ra từ một nhà hàng nào đó rồi đi lạc vào đây. Sau đó, anh Trung đã liên hệ với kiểm lâm và các trung tâm cứu hộ để cứu chữa cho cá thể động vật này. Đồng thời, anh Trung cùng với một chuyên gia nghiên cứu thực địa Nguyễn Mạnh Hà bắt giữ cá thể động vật trên, cho ăn uống và chờ Trung tâm cứu hộ đến để bàn giao...”.

Cả một đoạn rườm rà với nhiều từ Hán trên có thể viết gọn lại:  "… Ngày 6-3, anh Võ Huy Trung bắt gặp một con cầy vòi hương đang rất yếu trong vườn nhà. Nghĩ là con cầy đã xổng ra từ một nhà hàng và đi lạc vào đây nên anh Trung đã nhờ kiểm lâm đến cứu chữa, sau đó đã cùng một chuyên gia nghiên cứu thực địa là anh Nguyễn Mạnh Hà săn sóc để chờ bàn giao cho Trung tâm cứu hộ …" . Vậy là đủ, không cần phải lặp đi lặp lại "cá thể cầy hương"…“cá thể động vật”. Phải chăng là người viết muốn khoe cho người ta thấy mình biết được nhiều chữ Hán (!). Thật vậy, “cá thể” tức là một con (khác với tập thể) – Vậy thì cứ viết là “một con” đi… Bởi dân ta vẫn luôn nói như thế. Người Việt không việc gì phải ngại dùng tiếng Việt!

Trước 1975, ở miền Nam ta hay nói và viết “hoả tiễn”, “máy bay trực thăng” “thuỷ quân lục chiến”, “hàng không mẫu hạm”… Sau 1975, các chữ này được thay bằng “tên lửa”, “máy bay lên thẳng”, “lính thuỷ đánh bộ”, “tàu sân bay”… lúc đầu nghe hơi lạ tai nhưng suy nghĩ lại thì thay như thế là đúng, hay, bớt lệ thuộc vào chữ Hán.

Chính Bác đã cảnh giác người viết khi nhắc câu tục ngữ “Xấu hay làm tốt, dốt hay nói chữ”; vậy mà sao sách báo, các văn bản... toàn nói chữ. Dọc đường ven bờ biển, người ta cắm bao nhiêu là bảng đỏ, ghi chữ to: “CẤM TẤT CẢ CÁC PHƯƠNG TIỆN LƯU THÔNG VÀO ĐƯỜNG ĐI BỘ”. Không hiểu người viết đã hiểu từ “phương tiện lưu thông” như thế nào? “Phương tiện lưu thông” đâu chỉ là xe cộ? Tàu thủy, máy bay, thậm chí đôi chân người đi cũng là “phương tiện lưu thông” chứ. Vậy ra là bảng cấm này cấm cả người ta đi vào đường đi bộ ư, rồi nó cấm luôn cả tàu thuyền, máy bay… vào đường này? Thật hài hước!

Tật sính chữ khiến người ta viết tiếng Việt cứ như người nước ngoài mới học và gây phiền hà cho người đọc. Thật vậy, cần chi phải nói chữ cho rườm rà như thế; nên viết đơn giản là “Cấm các loại xe đi vào đường này”  thì gọn mà chuẩn xác hơn, ai cũng hiểu.

Cần nói thêm là dĩ nhiên có những chữ mà tiếng ta không có thì ta buộc phải dùng tiếng nước ngoài. Việc này cũng thường tình bởi không có dân tộc nào có đầy đủ tất cả mọi từ chỉ mọi vật trong vũ trụ này. Ngoài ra có khi do ngữ cảnh ta buộc phải dùng tiếng nước ngoài:  chằng hạn nhóm từ “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”: Tuy tiếng ta có chữ “đứng một mình” là cùng nghĩa với “độc lập”… Nhưng trường hợp đặc biệt này ta không dùng tiếng ta được. Chính vì vậy lời răn đầu tiên của Bác về cách viết là: “Không dùng chữ nước ngoài nếu không cần”.

Gốc tích thói ham dùng chữ

Do điều kiện lịch sử, văn hoá Trung Hoa ăn sâu vào đời sống tinh thần của người Việt. Ngày xưa các Nho sĩ học kinh sách viết bằng chữ Hán. Dù đỗ đạt hay không, dù làm quan hay chỉ làm thầy đồ dạy học, làm thầy thuốc ở quê… Thì vẫn được người dân trọng vọng. Chính vì dân ta xưa trọng chữ, trọng khoa cử… Nên nhiều tác gia xưa đã chuộng chữ Hán mà coi thường chữ Nôm – Mặc dù đây là phương tiện ghi chép tiếng nói của dân tộc. Chữ Nôm đã có từ lâu lắm, thậm chí có ý kiến cho rằng chữ Nôm đã có từ thời vua Hùng… Nhưng nhiều nhà Nho vẫn tỏ ra không mấy mặn mà với thứ chữ ấy. 

Trường hợp Phạm Đình Hổ có ý coi nhẹ chữ Nôm là một điển hình: Trong "Tự thuật" của “Vũ Trung Tùy Bút”, ông đã viết: "Có người đem những sách truyện Nôm và những trò thanh sắc, nghề cờ bạc rủ rê chơi đùa thì ta bịt tai lại không muốn nghe. Ta đã học vỡ được ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết". Phạm Đình Hổ đã xếp chữ Nôm ta ngang với các “trò thanh sắc”, “nghề cờ bạc”… Tư tưởng này ăn lan vào ý thức cộng đồng nên tục ngữ xưa có câu “Nôm na là cha mách qué”… Cũng vì vậy đã hình thành thói quen khi diễn đạt những ý trang trọng, người ta hay dùng từ Hán… Ý thức ấy kéo dài mãi đến hôm nay mà người ta không biết rằng nhiều áng văn Nôm tuyệt tác đã có những câu tuyệt đỉnh của nghệ thuật lại dùng toàn từ thuần Việt…

Quan điểm chúng ta nay cần thay đổi để phát huy sức mạnh của tiếng ta.

Cần dân tộc hóa cách viết

Bác Hồ có 18 điều răn về cách viết văn - Và 5 điều đầu tiên: Tập trung vào việc “dân tộc hoá” cách viết:

1. Không dùng chữ nước ngoài nếu không cần.

2. Không viết một câu theo cách đặt chữ của nước ngoài nếu không cần.

3. Không dùng điển tích của nước ngoài nếu không ích gì.

4. Không được li dị với truyền thống văn chương quí báu của dân tộc.

5. Không miệt thị văn nôm.

Sách báo ta hôm nay không chỉ thường ham dùng từ Hán, người viết đôi khi lại chen vào trong bài viết các cú pháp ngoại lai. Ví dụ: Nêu một câu nói trích dẫn, họ thường dùng cách đảo chủ ngữ ra cuối câu: “Thanh niên điều khiển xe mới 17 tuổi, chưa có bằng lái xe. Thanh niên này sau đó đã thừa nhận hành vi vi phạm giao thông…”, vị lãnh đạo này nói”.

Đây là cách nói của người Âu Mỹ, người Việt không nói như vậy. Cách viết này đã phạm vào điều răn thứ nhì trong 18 điều răn của Bác.

Lúc sinh thời, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng rất thiết tha với việc “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” và yêu cầu “phải nói và viết đúng phép tắc của tiếng ta” nghĩa là không dùng cách nói, cách viết xa lạ với ngôn ngữ Việt.

Có lẽ hôm nay người viết đã quên một bài giáo khoa quan trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 12: bài “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt”. Qua bao lần chỉnh chương trình, thay sách… Đến nay bài này vẫn luôn được giảng dạy trong nhà trường phổ thông.

Nguyễn Cẩm Xuyên

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.