Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Ta có thể thấy những đặc trưng cơ bản của thơ Hai-cư Nhật Bản là thể thơ ngắn nổi tiếng của Nhật Bản, đạt đến vẻ đẹp của sự cô đọng, hàm súc và gợi mở. Đây là thể thơ không nhằm kể chuyện dài hay bộc lộ cảm xúc trực tiếp, mà thường ghi lại một khoảnh khắc rất nhỏ của thiên nhiên, đời sống để từ đó mở ra suy tưởng sâu xa về con người và vũ trụ.

Đặc trưng dễ nhận thấy nhất của thơ Hai-cư là ngắn gọn gồm 17 âm tiết chia thành ba dòng thơ với nhịp: 5 - 7 - 5. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất của Hai-cư không chỉ là số âm tiết, mà là khả năng dùng rất ít lời để gợi ra rất nhiều ý. Bài thơ Hai-cư thường giống như một nét chấm phá, chỉ vài hình ảnh, vài âm thanh, vài chuyển động nhỏ, nhưng phía sau là cả một không gian cảm xúc, triết lý và gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, giàu tính thiền.

Lấy hình ảnh làm nơi trú ngụ của tư tưởng

Theo tôi, trong thơ Việt đương đại, cố nhà thơ Phùng Cung (với tập thơ “Xem đêm” xuất bản năm 1995) là một dạng “Hai-cư mới” của thơ Việt Nam. Ông có một giọng thơ đặc biệt với ngôn ngữ thơ tối giản: lặng lẽ, cô đơn, ít lời mà thăm thẳm. Thơ ông không ồn ào giãi bày, không mở rộng thành diễn ngôn dài, mà thường nén lại trong những mảnh ngắn, những hình ảnh bất chợt, những câu thơ như vừa nhặt được từ bờ ruộng, bến sông, gian bếp, ngõ làng, phận người.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại -0
Nhà thơ Phùng Cung.

Đọc thơ Phùng Cung, có thể nhận ra một dạng thơ ngắn rất gần với tinh thần Hai-cư, nhưng không phải là sự mô phỏng máy móc thơ Hai-cư Nhật Bản. Đây có thể xem như một thứ “Hai-cư mới” của thơ Việt Nam: ngắn, cô đọng, giàu trực giác, lấy khoảnh khắc làm điểm bừng sáng, lấy hình ảnh làm nơi trú ngụ của tư tưởng, lấy cái im lặng sau câu chữ làm phần sâu nhất của bài thơ.

Nếu Hai-cư truyền thống Nhật Bản thường bắt lấy một khoảnh khắc thiên nhiên để mở ra cảm thức vô thường, tịch lặng, thì thơ ngắn Phùng Cung bắt lấy những khoảnh khắc rất Việt Nam: bã trà, cua đồng, cái vạc, hạt gạo, bếp tắt lửa, dấu chân bùn, rổ không, nón vá mo cau. Thế giới ấy không thanh sạch theo nghĩa xa rời đời sống, mà ngược lại, lấm láp, đói nghèo, đau đớn, nhiều khi bị dồn đến tận cùng. Nhưng chính trong cái lấm láp ấy, Phùng Cung tìm thấy ánh sáng nhân bản.

Bài “Trà” chỉ có ba câu: “Quất mãi nước sôi/ Trà đau nát bã/ Không đổi giọng Tân Cương”. Cái hay của bài thơ nằm ở sự chuyển nghĩa cực nhanh. Ban đầu là chuyện pha trà, nhưng sau đó lập tức thành chuyện khí tiết. Trà bị “quất mãi nước sôi”, bị “đau nát bã”, nhưng vẫn “không đổi giọng”. Hình ảnh chén trà trở thành hình ảnh con người bị thử thách, bị hành hạ, bị nghiền nát mà vẫn giữ phẩm chất, cốt cách, căn tính. “Giọng Tân Cương” không chỉ là hương vị trà, mà là bản lĩnh không khuất phục. Bài thơ không nói một lời nào về nhân cách, hay phản kháng, nhưng tất cả đều hiện lên sau mấy chữ. Đó chính là “ý tại ngôn ngoại”.

Ở nhiều bài khác, Phùng Cung cũng dựng tứ thơ bằng cách chọn một vật nhỏ, một cảnh nhỏ, rồi làm cho nó mang linh hồn của cả một phận đời. “Cua đồng” không còn là con cua bình thường, mà là biểu tượng của kiếp sống lam lũ: “Phận - lấm/ Tối ngày đào khoáy”. Chữ “phận” đứng một mình, lại được nối với chữ “lấm” bằng dấu gạch ngang, khiến câu thơ như một nhát khắc. Cái lấm không chỉ là bùn đất, mà là thân phận. Lưng cua có “hoa văn tiền sử”, vừa gợi vẻ đẹp cổ xưa, vừa gợi sự bền bỉ nguyên thủy của sinh tồn.

Đến câu “Mấy kiếp rồi”, bài thơ mở ra một chiều sâu thời gian. Một con cua đồng bỗng mang trong nó lịch sử của bao kiếp nông dân, bao đời người cúi xuống bùn lầy kiếm sống. Đây là cách Phùng Cung nâng cái nhỏ lên thành cái lớn, biến vật tầm thường thành biểu tượng nhân sinh. Thơ Phùng Cung thường như vậy: hình ảnh bên ngoài rất cụ thể, nhưng nghĩa bên trong lại chao động, mở rộng sang số phận con người.

Nghệ thuật tối giản, dựng tứ bất ngờ, ngắt câu táo bạo

Một đặc điểm quan trọng của dạng “Hai-cư Việt” này là khả năng nén tư tưởng xã hội và cảm thương nhân sinh vào hình ảnh với nghệ thuật tối giản. Bài “Hạt gạo” là một ví dụ tiêu biểu. Hạt gạo trong văn hóa Việt vốn là biểu tượng của sự sống, của lao động, của mồ hôi. Nhưng trong thơ Phùng Cung, hạt gạo còn trở thành một đối tượng linh thiêng: “Tôi/ Bạc tóc - rạp đầu/ Lạy hạt gạo thiêng.” Cái lạy ấy không phải sự sùng bái vật chất, mà là sự thức tỉnh trước giá trị của lao động và sự sống. Muốn có “lưng cơm, đọi cháo”, con người đã “trầy trật”, đã bạc tóc, đã cúi đầu. Bài thơ ngắn mà chứa cả đạo lý dân gian, cả kinh nghiệm đói nghèo, cả thái độ biết ơn trước những gì nuôi sống con người.

Tương tự, “Mồ hôi xương” viết về người phụ nữ vất vả, với “lưng áo” trắng vôi. Nhưng Phùng Cung không dừng ở cái trắng bên ngoài. Ông viết: “Cái trắng này/ Vắt tận trong xương”. Câu thơ khiến lao động hiện lên như một sự hao mòn tận cốt tủy. Mồ hôi không chỉ chảy trên da thịt, mà như được vắt từ xương. Cái nhìn ấy vừa thương cảm, vừa xót xa, vừa có sức tố cáo âm thầm.

Không gian thôn quê trong thơ Phùng Cung là một không gian nghèo, buồn, vắng, nhưng giàu dư vang. Nỗi lỡ dở ấy trở lại trong “Nuối tiếc” và “Lỡ xanh”. Ở “Nuối tiếc”, người con gái “đi lấy chồng/ Cuối hè năm đói”, để rồi “má phấn úa dần”, “dấu chân chim đầy mặt”. Câu kết “Thời gian trộm cắp hết ngày xưa” là một phát hiện vừa giản dị vừa đau đớn.Bên cạnh nỗi buồn riêng, thơ Phùng Cung còn có chiều sâu của nỗi đau đất nước.

Bài “Đất nước” trực tiếp hơn nhiều bài khác, nhưng vẫn giữ được sức nén cảm xúc. Đất nước được gọi như một con người thân yêu: “Tôi mến người/ Như khi nhìn em bé ngủ/ Tôi thương người/ Như thương mẹ ốm”. Cách so sánh ấy đưa đất nước ra khỏi những khái niệm lớn lao, trang trọng, để trở về với hình hài mong manh, cần được chở che. Đất nước vừa là em bé ngủ, vừa là mẹ ốm; vừa trong trẻo, vừa đau yếu.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại -1
Tập thơ “Xem đêm” của Phùng Cung.

Về nghệ thuật, thơ ngắn Phùng Cung nổi bật ở lối dựng tứ bất ngờ, ngắt câu táo bạo, dùng động từ lạ và nhân hóa giàu sức gợi. Ông thường đặt các từ bình thường vào những quan hệ bất thường: “nắng đạp”, “gió khều”, “trăng vá”, “chó vẽ bóng”, “mặt đất tròng trành”, “ma hoa nhảy múa”. Chính sự lệch chuẩn ấy làm hình ảnh bật sáng.

Có thể nói, “Hai-cư mới” trong thơ Phùng Cung không nằm ở số âm tiết, số câu hay hình thức cố định, mà nằm ở tinh thần: lấy ít gợi nhiều, lấy khoảnh khắc mở ra kiếp người, lấy cảnh vật để nói phận người, lấy im lặng làm chiều sâu. Mỗi bài thơ giống một hạt nhỏ nhưng chứa cả mùa đau, mùa nhớ, mùa nước mắt. Đó là thơ của những gì bé nhỏ nhưng không hề tầm thường. Bởi vậy, đọc thơ ngắn Phùng Cung là đọc phần không nói ra của tiếng Việt. Câu chữ ít, nhưng dư âm nhiều; hình ảnh nhỏ, nhưng bóng nghĩa lớn; giọng thơ lặng, nhưng bên trong là một sức chịu đựng mãnh liệt. Nếu gọi đây là một dạng Hai-cư Việt Nam hiện đại, thì đó là thứ Hai-cư đã đi qua bùn đất đồng chiêm, qua gian bếp nghèo, qua mùa nước mắt, để trở thành một mỹ học của nén đau và giữ sáng.

Thơ Phùng Cung vì thế không chỉ ngắn, mà sâu, không chỉ cô đọng, mà ám ảnh, không chỉ “ý tại ngôn ngoại”, mà còn “đời tại ngôn ngoại” với cả một đời sống âm thầm, đau đáu, lấp lánh phía sau những câu thơ rất ít lời. Tinh thần cốt lõi của Hai-cư Nhật Bản là bắt lấy một khoảnh khắc rất nhỏ của đời sống, qua đó mở ra một cảm thức lớn hơn về thời gian, thiên nhiên, con người và cõi sống. Thơ ngắn Phùng Cung cũng vậy. Ông không chọn những đại cảnh lớn lao mà thường bắt đầu từ những vật nhỏ và những hình ảnh ấy tự thân rất bình dị, thậm chí lam lũ, nhưng qua cái nhìn của nhà thơ lại mở ra chiều sâu nhân sinh.

Hai-cư Nhật nghiêng về cái đẹp thanh tĩnh của thiên nhiên. Phùng Cung nghiêng về cái đẹp âm thầm của con người trong khổ đau. Hai-cư Nhật thường làm người đọc lắng xuống trước cõi vô thường. Phùng Cung làm người đọc nghẹn lại trước phận người, phận nước, phận quê nghèo. Nhưng ở tầng sâu nhất, cả hai gặp nhau ở một phẩm chất chung khi lấy cái nhỏ để nói cái lớn, lấy cái ít để gợi cái nhiều, lấy im lặng để làm vang lên ý nghĩa. Đó chính là tinh hoa của thơ ngắn, cũng là lý do có thể xem thơ Phùng Cung như một dạng Hai-cư Việt Nam hiện đại, không phải bản sao của Hai-cư Nhật, mà là một biến thể Việt hóa.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân và các nhà văn nữ đoạt giải nobel văn học

Dịch giả Bùi Xuân đã dành thời gian hơn một năm để biên soạn cuốn sách chuyên khảo công phu có tên gọi “Các nhà văn nữ đoạt giải Nobel sống và viết”. Tác phẩm có dung lượng 600 trang với nhiều thông tin bổ ích này vừa được Nhà xuất bản Phụ Nữ ấn hành.

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

"Hang Hổ" - một bức tranh vùng cao mời gọi

Tập "Hang Hổ" có 14 truyện ngắn, mỗi truyện là một bức tranh vùng cao theo các chủ đề khác nhau nhưng chung một phong cách trữ tình sâu lắng và hiện thực trào tiếu, tưởng như đối lập, xa nhau nhưng thống nhất tạo nên nét riêng ngòi bút Trần Nguyên Mỹ.