Thơ suy cảm và thơ duy lý

Xin quay lại một câu chuyện tưởng như rất cũ trong thơ, ấy là câu chuyện về hai yếu tố cơ bản làm nên chất liệu của thơ: cảm xúc và tư tưởng.

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu đã từng nói: “Quy luật của thơ là quy luật của cảm xúc. Cũng như đã là nước thì có thể đục, có thể trong, nhưng không thể khô”. Còn nhớ, có lần tôi đã thử gạn hỏi ông: “Thế còn tư tưởng thì sao ạ?”. Ông đáp ngay, lạnh lùng và mỉa mai: “Kinh nghiệm cho hay thời gian sẽ thanh toán nó trước tiên”. Tôi không dám tranh cãi với ông, nhưng trong bụng vẫn còn cấn cái. Thỉnh thoảng tôi lại tự làm một cuộc đối thoại với ông trong tưởng tượng, tôi lấy chính thơ ông để bắt bẻ ông, chẳng hạn: “...Yêu là chết ở trong lòng một ít…”, “. . . Là thi sĩ nghĩa là ru với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây. ..” thì là cảm xúc hay tư tưởng?. . . Ông còn có cả một bài thơ toàn mùi triết lý:

image001.jpg -0
Xuân Diệu (1916 - 1985) nhà thơ "mới nhất trong những nhà Thơ Mới".

Đi thuyền

Thuyền qua mà nước cũng trôi
Lại thêm mây bạc trên trời cũng bay
Tôi đi trên chiếc thuyền này
Dòng mơ tơ tưởng cũng thay khác rồi 
Cái bay không đợi cái trôi
Từ tôi phút trước sang tôi phút này.

Tự hỏi xong, rồi tôi lại tự bào chữa cho ông: Nhưng đấy đâu phải là những bài thơ hay nhất, giàu sức sống nhất của ông. Lại nhớ tiếp: Sau khi đáp lại một cách lạnh lùng và mỉa mai như trên, một lúc sau, không hiểu do thương tình, nể nang hay đã  suy nghĩ lại, ông cười một nụ cười rộng mở, cặp mắt sáng lên sau mắt kính, nói thêm: “Tớ và cậu cộng lại chia đôi thì vừa”. Đúng là ông đã nói như thế, trong một cuộc họp gì đó ở số nhà 51 Trần Hưng Đạo và cũng chỉ một lần duy nhất mà thôi.

Xuân Diệu là nhà thơ tôi kính trọng và yêu mến bậc nhất, nên mỗi kỷ niệm về ông tôi đều nâng niu và mỗi lời nói của ông đều gợi ra cho tôi những suy nghĩ. Như chúng ta đều biết, Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong các nhà Thơ Mới (lời Hoài Thanh), ông xuất thân Tây học, thông thạo và chịu ảnh hưởng thơ Pháp rất nhiều. Thế nhưng bên cạnh những dấu vết  ảnh hưởng ấy, thơ ông vẫn rất đồng cảm gần gũi với người Việt  Nam, cả về nội dung lẫn nghệ thuật diễn đạt.

Tôi dám quả quyết rằng trong cuộc đời sáng tạo của mình, đặc biệt là thời gian đầu, ở trong ông đã diễn ra một cuộc đấu tranh, có thể là rất âm thầm, giữa xu hướng thơ phương Tây và thơ phương Đông, giữa ảnh hưởng ngoại lai và sức sáng tạo độc lập của tài năng và hồn thơ vốn có. Cuộc đấu tranh đó không hẳn là bất phân thắng bại, nhưng cũng không hẳn là một bên ca khúc khải hoàn trọn vẹn và một bên kéo cờ trắng đầu hàng không điều kiện.

Có lẽ chính vì thế thơ Xuân Diệu phong phú, phức tạp khi mổ xẻ nội tâm, nhiều cung bậc, giọng điệu trong thể hiện - nếu đặt ông cạnh Nguyễn Bính chẳng hạn, ta sẽ thấy ngay điều đó. Tôi cũng nghĩ như nhiều người rằng thơ Nguyên Bính thấm đẫm tâm hồn, tính cách và lời ăn tiếng nói của con người nhà quê Việt Nam, nó sẽ còn sống lâu dài với các thế hệ, bởi vì trong mỗi con người Việt Nam đều có một người nhà quê, và chính trong quá trình đô thị hóa, văn minh hóa, như một phản xạ tất yếu, con người đó luôn khao khát trở về với cội nguồn, gốc gác của mình để tìm lại sự cân bằng cho tâm hồn.

Tuy nhiên, sự vận động của cuộc sống là hướng tới nền văn minh hiện đại mà cho đến nay châu Âu (nói rộng hơn là phương Tây) vẫn luôn đi đầu. Một trong những đặc điểm của nền văn minh hiện đại là sự giải phóng cá nhân đến cao độ, con người được sống trọn vẹn với riêng mình - đó là một quyền lợi tối thượng đáng ao ước, nhưng như vạn sự trên đời, nó liền mang theo mặt trái, cái phía âm bản của mình - ấy là con người rơi vào cô đơn bất tận khi phải đối diện với chính mình, luôn tuyệt vọng một cách say sưa nhấm nháp cái mùi vị đắng cay không phương cứu chữa có tên là “thân phận con người”, luôn cảm thấy những trạng huống mà thơ Xuân Diệu từng diễn tả rất tài tình: “Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề...” , “...Hai người nhưng chẳng bớt bơ vơ...”, v.v...

Có người có lẽ vì quen sống đơn giản và cực đoan nữa, đã cho rằng chỉ có Nguyễn Bính mới chung đúc tâm hồn người Việt Nam, còn một số nhà thơ khác trong đó có Xuân Diệu lại diễn đạt những cảm xúc vay mượn, ngoại lai, hoặc chỉ tồn tại trong một bộ phận nhỏ những người mà họ gọi là “tiểu tư sản”. Tôi e rằng như thế là vô tình họ đã quá tôn vinh cái gọi là tâm hồn “tiểu tư sản”, vì rõ ràng nó phong phú hơn, tinh vi hơn, phức tạp hơn, nghĩa là nó ở một mức độ phát triển cao hơn.

Thật ra, đó là vì những người ấy đã quá chủ quan, họ những tưởng đang hăng hái bênh vực những giá trị truyền thống, nhưng tôi đồ rằng họ đã đơn giản hóa, đã không hiểu hết những giá trị đó, lại càng không hiểu được rằng những giá trị đó đang vận động về phía trước, gấp gáp và mạnh mẽ hơn ta tưởng rất nhiều.

Không ai có thể cưỡng được quy luật. Bản thân tôi cũng là một người nhà quê chính hiệu: sinh ra và sống gần trọn vẹn tuổi niên thiếu ở nông thôn, ký ức đầy ắp những kỷ niệm thôn quê, nhưng sao những lúc buồn bã, cô đơn - nghĩa là những lúc cần đến thơ nhất - tôi đều trở về với Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử... và xa hơn nữa, là thơ Đường. Ở đó tôi tìm thấy hầu như tất cả những thanh âm đồng điệu, sự hiểu thấu và cảm thông, mà thực ra tôi cũng chẳng còn nhớ là đang lẩm nhẩm thơ ai, hay đấy chính là hồn mình đang tự tách ra để an ủi chính mình. 

Nói như thế cũng là để trở lại với câu chuyện ở trên. Cuộc giằng co mà tôi tin là đã hơn một lần diễn ra trong Xuân Diệu và những nhà thơ cùng “típ” với ông. Kết quả của mối duyên nợ “từ đối đầu trở thành đối tác” ấy đã sinh hạ một sinh linh thật đẹp: Xuân Diệu đã tiếp thu cách nghĩ cách cảm, cách nhìn của phương Tây để bổ sung cho phương Đông, và ngược lại đã đem quy luật của cảm xúc vốn là bản chất và đặc thù của nền thơ phương Đông để thuần hóa đặc thù duy lý của thơ phương Tây, đặng cung cấp cho chúng ta những món ăn vừa lạ vừa quen, bổ dưỡng như một thứ Tây dược đã được tinh chế, nhưng vẫn không mất đi mùi vị thảo mộc của thuốc Nam.

Và như thế, con người ấy đã chuyển đến chúng ta một thông điệp đầy tin cậy về con đường đi cho những ai muốn cách tân thơ mình theo hướng hiện đại hóa: Hãy khám phá và diễn đạt thật chính xác, sâu sắc thế giới tâm hồn tinh vi của mình, thông qua việc chuyển tải những cảm xúc tràn đầy, bằng sức mạnh tổng hợp của ngôn từ: ngữ nghĩa và ngoài ngữ nghĩa - nhạc điệu, tiết tấu, sức lay động của âm thanh...    

Nguyệt Cầm

                   (Thơ Xuân Diệu)

Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần,
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm,
Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân.

Mây vắng, trời trong, đêm thuỷ tinh.
Lung linh bóng sáng bỗng rung mình,
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đêm rằm theo nước xanh.

Thu lạnh, càng thêm nguyệt tỏ ngời;
Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi!
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận.
Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người…

Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê
Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề…
Sương bạc làm thinh, khuya nín thở
Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

(Rút từ tập “Gửi hương cho gió”, 1945).

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).