Chào mừng ngày nhà giáo Việt Nam 20-11

Thiêng liêng được gọi tiếng "Thầy"

Hồi tôi mười tuổi, thỉnh thoảng thấy một ông cụ râu tóc bạc đến nhà mình. Tướng mạo cụ thật đẹp, cung cách từ tốn ung dung như một nhà Nho. Cụ ở chơi suốt ngày, có khi cụ lật mấy cuốn sách ra xem hoặc uốn vài nhành cây trong vườn. Lúc lại ngồi xếp bằng uống trà với ông nội tôi trên chiếc phản gỗ. Thường thì cụ nói, ông tôi chỉ gật đầu dạ, như cách thầy dạy bảo học trò. Và đúng thật, cụ là người thầy của ông nội tôi. 

1.Ấy là cụ Nguyễn Ngọc Duệ, người làng Đại Hào (tỉnh Quảng Trị), từng nhiều năm dạy học và Hiệu trưởng Trường Tiểu học Đại Hào. Ông nội tôi kể thuở còn nhỏ, ông dắt người em ruột sang chỗ cụ giáo Duệ học. Thấy hai anh em mồ côi cha mẹ nên thầy giáo Duệ thương, coi như con. Hồi đó quan niệm đặt tên con xấu cho dễ nuôi, vì thế tên ông nội tôi và người em ruột không được hay. Chính cụ giáo Duệ đã đặt lại tên cho ông nội tôi và người em ruột. Sau này hai cái tên đó thành tên chính thức, dùng trong mọi giấy tờ liên quan. Một người thầy thương trò và đặt tên cho trò, khác nào một người cha.

Ông tôi luôn nhắc đến cụ giáo Duệ bằng tiếng "thầy" thiêng liêng. Và ông coi cụ giáo Duệ như một người thầy trọn đời, thậm chí là một người thầy của cả gia đình. Mỗi lần sang nhà tôi chơi, thể nào cụ Duệ cũng để lại một vài bài học, tuy giản đơn nhưng sâu sắc. Có lần cụ sang chơi, thấy trong nhà treo bức liễn gỗ to khắc ba chữ Hán: "Đức Lưu Quang". Cụ tỏ vẻ không vừa ý, bảo chữ Đức viết sai nét ở chữ Tâm. Rồi cụ thong thả đọc: "Con cu mà đậu nhành nè/ chữ Thập, chữ Tứ, Nhất đè chữ Tâm. Ấy là chữ Đức". Cụ dạy thêm rằng tâm là gốc của đức, muốn có đức thì trước hết tâm phải chuẩn. Viết sai chữ Tâm thì không có Đức. Ông nội tôi cúi đầu lắng nghe, thành khẩn như học trò biết lỗi.

Mấy bữa sau hình như cụ còn giận, không qua nhà tôi nữa mà gửi cho một người bán hàng ở chợ Thuận tờ giấy bổi to viết ba chữ "Hiếu Vi Tiên" do chính tay cụ thảo nét. Kèm theo là một mảnh giấy nhỏ ghi: "Gửi anh Tình (tên ông nội tôi do cụ đặt), anh thay tấm liễn bằng ba chữ này. Nó chuẩn và có nhiều ý nghĩa với gia đình hơn". Ông tôi cho tháo ngay tấm liễn xuống, chọn bản gỗ tốt, bảo rập tờ giấy lên bản để chạm ba chữ "Hiếu Vi Tiên". Thật lạ, cái tờ giấy rập vừa khít với khung gỗ. Bản liễn này đến nay vẫn được treo trang trọng ở căn giữa. Ông tôi dặn sau này dù có sửa sang nhà cửa thì vẫn phải treo cái liễn đó trước bàn thờ. Năm ngoái cụ Duệ mất, tròn một trăm tuổi, thật xưa nay hiếm. Gần như đấy là người cuối cùng ở trong vùng am hiểu Hán học và kinh thư xưa. Nhiều người tiếc nuối bảo từ nay muốn hiểu căn cơ những văn tự cổ chẳng biết nhờ vào đâu. Ông nội tôi trực ở đám tang cụ về buồn suốt mấy hôm. Có lẽ ông tiếc từ nay đã hết được gọi một tiếng "thầy".

Tấm bia đá do cụ Hoàng Trọng Thuần phụng đề ở làng Phúc Lộc.
Tấm bia đá do cụ Hoàng Trọng Thuần phụng đề ở làng Phúc Lộc.

Sinh thời, ông Pháp ở làng Phú Tài hay chữ và có nét chữ đẹp, viết liễn bằng chữ Việt nhưng cách điệu rất độc đáo. Một từ dù hai hay sáu chữ cái ông vẫn xếp được thành một bố cục như chữ Hán. Nhà tôi có cặp câu đối lớn treo ở căn giữa do ông Pháp đặt câu và đề bút: "Phật bổn từ bi khan tỉnh thế/ Nhơn tùng hiếu kính thị tu gia". Hiểu đơn giản, người sống có đạo hiếu, ấy là đang tu vậy. Đem cặp câu này đặt với ba chữ "Hiếu Vi Tiên" của cụ giáo Duệ ở tấm liễn thì trọn nghĩa. Các thầy hay chữ ngày xưa bao giờ cũng khuyên con người ta giữ lễ nghĩa.

Thầy Pháp là người tu tại gia, có người gọi thầy có người gọi ông, tùy nghi không câu nệ. Danh khả danh phi thường danh, tên tuổi mà bảo có tên tuổi thì chưa thể gọi là tên tuổi. Nhưng ông nội vẫn khuyên chúng tôi phải gọi bằng thầy. Nhất tự vi sư bán tự vi sư, huống chi ông đã để lại cho gia đình tôi cả một cặp câu ý nghĩa, xứng đáng gọi thầy quá đi chứ.

2. Làng tôi có cụ Hoàng Trọng Thuần, giữa thế kỷ trước từng giữ chức Chủ tịch Hội Cổ học Quảng Trị. Cụ vừa là thầy giáo, vừa là thầy thuốc Đông y. Về việc làm thầy, cụ Hoàng Trọng Thuần từng mở lớp học tại nhà, dạy cả chữ Nho lẫn Quốc ngữ, học trò đến học nằm bò ra đất mà viết. Thầy và trò không có sách giáo khoa, mới nhập môn thì Tam Tự Kinh, học thuộc lòng từng chữ từng tiếng một, sau đó học ngũ thiên tự.

Cũng có thể coi đây là một phương pháp sư phạm thời bấy giờ, cần phải vận dụng nhiều trí nhớ thuộc lòng. Khi đã học được khá nhiều từ thì chuyển sang việc học từng câu trọn ngữ: Thiên địa anh khí (khí sáng của trời đất), chung nhi vi nhân (hợp lại thành con người), dĩ mục thông minh (tai mắt sáng), vi nam tử thân (làm thân con trai), tận ngã nghĩa vụ (làm trọn bổn phận của mình), vị chi quốc dân (vì dân vì nước)…

Đây cũng có thể coi như triết lý của đạo Khổng, văn hóa nhà Nho được lồng vào môn học ngay từ tấm bé. Chính cách dạy này mà cụ đã hướng cho nhiều học trò trong vùng quê Quảng Trị trở thành những kẻ sĩ thực sự. Cái chí nguyện hun đúc nên những thế hệ người tài này được cụ khắc lên tấm bia đá đặt tại cồn Sanh của làng Phúc Lộc chúng tôi. Bia đề ngày 15 tháng 8 năm 1959, cụ viết một bài văn mặt trước là Hán ngữ, mặt sau Quốc ngữ, trong đó tựu trung để lại những lời khuyên cho hậu thế. Văn bia có đoạn viết: "Nghiệp lớn mưu sâu gìn công đức sẵn ghi ơn làng mạc/ Mài gươm đọc sách nối kiếm thơ mà trả nợ non sông". Tấm bia bây giờ vẫn còn và được làng gìn giữ như một di sản.

Cụ Thuần có trò đổi dế để khuyến khích sự học. Trẻ con bắt dế đến, cụ sẽ đổi cho tập giấy đem về học. Ý nghĩa sâu xa của việc đổi chác này là cụ muốn trẻ con bỏ bớt tính ham chơi để chú tâm vào sự học. Ông Hoàng Viện người làng tôi kể rằng hồi nhỏ được theo học thầy Thuần. Một lần, ông Viện bắt dế đổi giấy chỗ thầy về thì đem làm diều chơi. Mẹ ông Viện biết được, bắt ông nọc ra đánh và dắt ra nhà cúi đầu nhận lỗi trước thầy Thuần. Câu chuyện này chợt gợi nhớ đến một điển tích trong Tam Tự Kinh: "Tích Mạnh mẫu trạch lân xứ/ Tử bất học đoạn cơ trữ". Ông Mạnh Tử theo bạn bè bỏ học trốn về nhà, mẹ ông thấy con về giữa chừng thì chặt đứt khung cửi đang dệt và dạy rằng con bỏ học giữa chừng cũng như mẹ phá cái khung cửi này. Lấy điển tích ra để đối chứng, mới thấy các bậc phụ huynh ở làng tôi đều coi trọng cụ Thuần, đặt người thầy lên trên cả cha mẹ.

Về làm nghề thuốc Đông y, cụ Thuần từng mở một dãy quầy thuốc trên đoạn đường giữa làng để chữa bệnh cho người trong vùng. Đoạn đường đó được gọi lên là Phố thuốc Bắc ông Thầy. Qua chiến tranh, quầy thuốc đã không còn nhưng chỗ đất đó vẫn được người làng tôi gọi là "Phố ông Thầy" - một cái tên rất cổ kính, sang trọng. Có lẽ đó là cái phố độc đáo nhất xứ này. Phố nằm giữa làng quê mộc mạc thuần nông. Mới hay thuộc tính địa danh đâu phải do kiến trúc xây dựng trên đó, mà chính bởi lịch sử lao động của con người đặt nên.

Cả nghề làm thầy dạy học lẫn nghề bốc thuốc của cụ đều để lại tiếng thơm, người quê coi cụ như một bậc thượng nhân. Đến nỗi người ta kỵ húy, không dám gọi tên thật của cụ mà chỉ gọi ông Thầy, hoặc gọi chệch tên thành thầy Thoàn. Từ bấy đến nay, hễ người làng nhắc đến nhà ông Thầy, thì biết ngay là nói đến cụ Hoàng Trọng Thuần. Các thế hệ "người cũ" từng sinh hoạt trong Hội Cổ học bây giờ vẫn gọi cụ là thầy. Lưu danh hậu thế bằng một tiếng "thầy" như thế, dễ mấy ai có được.

Bức liễn Hiếu Vi Tiên và cặp câu đối treo trang trọng trong gia đình của tác giả bài viết.
Bức liễn Hiếu Vi Tiên và cặp câu đối treo trang trọng trong gia đình của tác giả bài viết.

3. Người miền Trung coi trọng việc làm thầy giáo. Có lẽ đó là nhờ ân sủng lưu lại từ thuở khoa cử triều Nguyễn ở kinh thành Huế, được xem là thời kỳ hưng thịnh trong việc chọn hiền tài. Sau này Trường Sư phạm Huế đào tạo ra nhiều giáo viên giỏi. Các sinh viên tốt nghiệp trường này khi vào miền Nam dạy học rất được chuộng.

Nằm trong dải đất miền Trung, nên người Quảng Trị cũng rất có duyên làm thầy. Đã có một thời học trò Quảng Trị thi đại học đều ưu tiên chọn nghề sư phạm. Người xứ này nghèo, nên chọn sư phạm để đỡ gánh nặng tiền học, ra trường dễ được ăn lương nhà nước như một sự đảm bảo cho chuyện mưu sinh. Nhưng so bề tính toán kiểu đó e rằng chưa phải, cái quan trọng là bởi mảnh đất này ham học, coi việc học như một sự đua tranh, nhà hàng xóm có người đi học thì nhà ta cũng phải đi học.

Từ việc hiếu học mà ra việc kính thầy. Nhà có người làm thầy giáo được xem trọng hơn nhà có bạc tiền. Làng tôi một sinh viên học trường sư phạm thì đã được gọi là thầy. Chưa tốt nghiệp nhưng cậu sinh viên về làng đều được các bậc phụ huynh gửi gắm con cái sau này. Những người cao tuổi trong làng gặp một người còn trẻ đi dạy thì vẫn gọi bằng thầy. Cái lễ nghĩa ấy, hẳn chỉ có những nhà sư phạm mới được nhận.

4. Một nền giáo dục thường được xây dựng trên nền tảng một hệ tư tưởng triết học. Giáo dục ở các nước Đông Á hình thành và chịu ảnh hưởng nhiều từ Đạo học. Cho nên các trường học ở Việt Nam đều treo câu khẩu hiệu "Tiên học lễ, hậu học văn". Chữ thầy vì thế được đặt lên cao, ngang tầm với cha mẹ. Người Việt ta trước đây gọi cha là thầy.

Thầy - là tiếng gọi bất di bất dịch. Một người học trò gọi thầy, thì cả đời vẫn gọi bằng thầy. Dù sau này có khi trò cũng làm thầy, trở thành đồng nghiệp của thầy. Hay dù học trò có làm quan làm chức, có ngồi chung mâm cạn cùng chén với thầy đi nữa, thì vẫn gọi thầy. Trong các mối quan hệ đời sống, thì quan hệ thầy trò là đặc biệt ở chỗ không bị thay đổi theo thời gian.

Trường học ở đâu cũng với mục đích tốt đẹp là xây dựng con người hoàn thiện. Nhưng chữ Thầy của người Việt gắn với nền tảng đạo lý và sự truyền thừa. Mới hay người Việt ta có chữ Thầy rất riêng, rất đáng kính. Thật thiêng liêng biết bao khi được gọi tiếng "Thầy".

Hoàng Công Danh

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.