Thiên tai, dịch bệnh tác động lên xã hội Việt Nam như thế nào?

Đây là câu chuyện về thiên tai, dịch bệnh và sự hưng vong của nhà nước, thăng trầm của quyền lực chính trị trong lịch sử Việt Nam...

Thời tiết, khí hậu và sự hưng vong của xã hội Việt Nam

Dưới sự dẫn dắt của chủ nghĩa Marx và lịch sử duy vật biện chứng, chúng ta nhận thức rằng sự tiến hóa của lịch sử thông qua các hình thái kinh tế-xã hội. Hưng thịnh của cộng đồng người, thịnh suy của quyền lực chính trị, nhà nước tới từ sự tương tác giữa kiến trúc thượng tầng, quan hệ sản xuất với cơ sở hạ tầng, lực lượng sản xuất.

Con người có thể chinh phục, cải tạo tự nhiên, sử dụng khoa học kỹ thuật để tạo ra các môi trường cho xã hội loài người. Các ý tưởng trên đều đúng. Việc nhấn mạnh vai trò của con người trong tương tác với tự nhiên, cải tạo thế giới... có tính hợp lí bởi tất cả các dự án đó được tạo ra bởi con người, bởi khoa học kỹ thuật, bởi ý chí của các nhà nước và các ý tưởng liên quan tới quyết định của họ đối với môi trường tự nhiên.

Kịch bản cũ cho 2050 và kịch bản mới cho 2050. Bản đồ dự báo các vùng ngập dưới triều cường ở hạ lưu Mekong (2050). Nguồn: New York Times (Oct. 29, 2019).
Kịch bản cũ cho 2050 và kịch bản mới cho 2050. Bản đồ dự báo các vùng ngập dưới triều cường ở hạ lưu Mekong (2050). Nguồn: New York Times (Oct. 29, 2019).

Bài viết này góp thêm vào nhận thức đó một khía cạnh khác của sự thăng trầm nhà nước và quyền lực chính trị trong lịch sử Việt Nam nhìn từ hệ quả của thiên tai, dịch bệnh và cách thức các điều kiện địa lý tự nhiên đặc thù đã tác động như thế nào tới phản ứng chính trị, xã hội và chính sách đối với tự nhiên. Nói cách khác, đây là câu chuyện về lịch sử chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự tham chiếu với tác động của tự nhiên.

Câu chuyện này bám sát cuộc hành trình thăng trầm của Việt Nam dưới tác động của thiên tai, dịch bệnh và hiện thường thời tiết bất thường. Người Việt thường mô tả mảnh đất thiêng liêng của mình là chốn “rừng vàng, biển bạc”, thiên nhiên ưu đãi. Tất cả những điều đó đều đúng, tuy nhiên mới chỉ là một phần của bức tranh tương tác phức tạp giữa con người với tự nhiên trên vùng đất này. Phần còn lại là nỗi ám ảnh và mối đe dọa thường trực của thiên tai.

Bão nhiệt đới, lũ lụt, sạt lở đất, dịch bệnh, côn trùng phá hoại, sông đổi dòng, hạn hán,... chỉ là một phần trong danh sách dài tác động tiêu cực của điều kiện tự nhiên đối với đời sống xã hội người Việt. Theo sau những biến động đó là nạn đói, dân cư lưu tán, bạo lực xã hội, trộm cướp, thổ phỉ và chống đối nhà nước. Tầm quan trọng của nghiên cứu này ở chỗ nó tìm kiếm một mô hình tương tác giữa thiên tai với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội người Việt.

Các nhà nước trong lịch sử đã tìm cách hạn chế ảnh hưởng của chúng như thế nào? Và hậu thế có thể học được gì từ cha ông để giải quyết cuộc chiến biến đổi khí hậu đang ngày càng đe dọa đời sống người Việt Nam.

Thiên tai với biến động chính trị và thay đổi vương triều

Không phải ngẫu nhiên các biến loạn xã hội thời tiền hiện đại thường bắt đầu bằng điềm báo liên quan tới hiện tượng thời tiết bất thường. Động đất, sông đổi dòng, nhật thực, dịch bệnh... không chỉ được coi là dấu hiệu của hỗn loạn xã hội mà theo sau đó là sụp đổ của vương triều.

Tâm thức đó phản ánh nỗi ám ảnh của con người trước những thay đổi tự nhiên không lường trước và kinh nghiệm xã hội liên quan tới hệ quả của chúng. Nhìn lại lịch sử hơn một nghìn năm qua, khi người Việt bắt đầu tiếp quản vùng châu thổ sông Hồng và mở rộng lãnh thổ về phía Nam cho tới khi nước Việt Nam hiện đại ra đời năm 1945, các biến cố tự nhiên là một phần của sân khấu lịch sử. Kỷ nguyên độc lập tự chủ bắt đầu việc định đô của nước Việt mới bằng một bản chiếu đề cập tới vị thế cao ráo, bằng phẳng, không ngập lụt của Đại La/Thăng Long/Hà Nội.

Nhà nước Việt Nam độc lập thời hiện đại cũng ra đời sau một nạn đói khủng khiếp năm 1945. Nguyên nhân của nó không chỉ tới từ chính sách kinh tế của Nhật-Pháp mà còn tình trạng lụt lội từ Hà Tĩnh, Nghệ An và mất mùa diện rộng trên vùng châu thổ Bắc Bộ nửa sau năm 1944.

Dọc theo diễn trình lịch sử lâu dài đó, sự trỗi dậy hay suy tàn của triều đại, gia tăng bạo lực xã hội, dân chúng li tán, nổi loạn... đều có thể truy nguyên nguồn gốc về các chuyển dịch kinh tế-xã hội dưới sự tác động của điều kiện địa lý tự nhiên và thay đổi yếu tố địa chính trị. Hãy lấy sự sụp đổ của nhà Trần làm ví dụ. Biểu đồ dưới đây thống kê các số lượng tương đối dày các trận lụt và hạn hán ở châu thổ sông Hồng trong 70 năm cuối cùng của vương triều Trần, tổng số khoảng 20 đợt (theo Đại Việt Sử ký Toàn thư).

Thiên tai không chỉ là nguyên nhân (và hệ quả) của sự sụp đổ chính trị nhà Trần mà còn là một phần của sự hỗn loạn của Việt Nam cuối thế kỷ XIV. Thất trảm sớ của Chu Văn An đã được đệ trình giữa những trận lụt và cơn hạn hán này. Các thống kê dân số cũng cho ra ước lượng rằng châu thổ sông Hồng đã mất đi 1,5 triệu người giữa những năm 1361 và 1390 do chiến tranh, nạn đói, dịch bệnh và di cư.

Những mô hình tương tự có thể được tìm thấy trong sự suy tàn của nhà Lê Sơ vào cuối thế kỷ XV-đầu thế kỷ XVI, sự suy tàn của chính quyền Lê-Trịnh và trỗi dậy của nhà Tây Sơn vào cuối thế kỷ XVIII.

Thiên tai, nạn đói và bạo lực xã hội

Sự gắn kết giữa thiên tai với gia tăng bạo lực xã hội là một nỗi ám ảnh của lịch sử Việt Nam. Thảm họa tự nhiên có thể giải thích nhiều giai đoạn hỗn loạn và bạo lực bậc nhất trong lịch sử Việt Nam, bao gồm:

(1) Cuộc khủng hoảng của nhà Lê Sơ cuối thế kỷ XV, sự chuyển đổi từ Lê sang Mạc và chiến tranh Nam-Bắc Triều.

(2) Sự hỗn loạn của thế kỷ XVIII với sự sụp đổ của nền kinh tế Đàng Trong, Đàng Ngoài, khủng hoảng của chính quyền Lê-Trịnh và chúa Nguyễn, sự nổi dậy của dân chúng, trong đó đỉnh cao là phong trào Tây Sơn. Điều đáng lưu ý, sự hỗn loạn ở thế kỷ XVIII là một hiện tượng có tính khu vực trên khắp Đông Nam Á mà một nguyên nhân chung có thể là do sự thay đổi thời tiết trong khu vực, đặc biệt vào nửa sau thế kỷ XVIII.

(3) Nhà Nguyễn là một bi kịch khác về ví dụ của nhà nước ở Việt Nam trong cuộc vật lộn với thiên tai và dịch bệnh.

Thống kê về lũ lụt, hạn hán, nạn đói và dịch bệnh ở vùng châu thổ sông Hồng trong giai đoạn 1300-1800.
Thống kê về lũ lụt, hạn hán, nạn đói và dịch bệnh ở vùng châu thổ sông Hồng trong giai đoạn 1300-1800.

Các sử gia hiện đại mô tả chế độ phong kiến dưới thời nhà Nguyễn thối nát không quan tâm đến đê điều, dân chúng để gây ra tai họa. Trái lại, tư liệu vương triều cho thấy trị thủy luôn là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với các nhà vua ở Huế. Thống kê của quan Đê chính Lê Đại Cương năm 1829 cho thấy đê dọc sông Hồng là 952 km, trong đó 144,5 km được xây dựng trong 26 năm đầu triều Nguyễn.

Tuy nhiên, thay đổi của hệ thống sông Hồng, tình trạng phá rừng ở Vân Nam đã làm cho nửa đầu thế kỷ XIX trở thành giai đoạn chịu nhiều lũ lụt nhất ở Bắc Kỳ. 48 lần vỡ đê được ghi nhận ở thế kỷ XIX. Riêng từ 1803 đến 1861 đã có 27 trận lụt được sử quan nhà Nguyễn chép lại, chưa kể các đợt vỡ đê cục bộ là chuyện xảy ra hằng năm.

Lụt và nạn đói là nguyên nhân trực tiếp của 4 cuộc nổi dậy thời Gia Long, 11 cuộc thời Minh Mệnh, 1 cuộc thời Thiệu Trị và 3 cuộc thời Tự Đức, trên tổng số 400 cuộc nổi dậy trong vòng 60 năm. Nhiều vùng đất ở Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định gần như bỏ hoang và tình trạng cư dân phiêu tán, tụ tập trong các nhóm vũ trang địa phương trở nên phổ biến (Đại Nam Thực lục).

Vào những năm 1820, vùng duyên hải Nam Định, Thái Bình trở thành hang ổ của những người lưu tán. Chính trên khung cảnh đó xuất hiện cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành và sau đó là các nỗ lực của Nguyễn Công Trứ nhằm ổn định dân cư bằng khai hoang và định cư trên vùng đất mới.

Cùng với 2 trận dịch thảm khốc dưới thời Minh Mệnh, thiên tai đã tạo ra ảnh hưởng cực kỳ sâu sắc tới số phận của Việt Nam trong đêm trước của quá trình hiện đại hóa, mở cửa và đương đầu với thực dân phương Tây.

Chiến tranh, dân lưu tán, nổi loạn, đàn áp của triều đình đã làm chia rẽ và suy yếu xã hội Việt Nam giữa lúc dân tộc cần một nhà nước mạnh và sự cố kết của dân chúng để giúp Việt Nam đương đầu với thử thách của thời đại. Với ý nghĩa đó, sẽ là không quá nếu nói rằng vỡ đê và lũ lụt đã làm thay đổi vận mệnh của nước Việt Nam hiện đại. 

Cuối cùng, thực tế cho thấy lụt lội, động đất, sóng thần, hạn hán, lở đất, nạn côn trùng... ghi dấu trên bước đường đi của nhân loại, ảnh hưởng trên tất cả các phương diện của đời sống xã hội, từ tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh đến tổ chức chính trị. Vì vậy, việc nghiên cứu lịch sử môi trường và thiên tai của Việt Nam không chỉ là cách giúp tìm câu trả lời cho những vấn đề cấp thiết về tài nguyên, môi trường hiện nay của chúng ta mà còn giúp hiểu rõ hơn bản sắc và những đặc trưng cội rễ của dân tộc.

Cuộc hành trình của dân tộc Việt Nam và số phận của nó giữa những thiên tai, dịch bệnh rõ ràng là bài học cực kỳ hữu ích cho chúng ta ngày nay, giữa khung cảnh của những thay đổi lớn về khí hậu và thời tiết quy mô toàn cầu. Việt Nam là một trong những nước sẽ gánh chịu hậu quả nặng nề nhất trong kịch bản biến đổi khí hậu 2050.

Nghiên cứu mới nhất của Climate Central đăng trên tạp chí Nature Communications dự báo vùng Nam Bộ sẽ biến mất. Khi đó, hơn 20 triệu người, tức ¼ dân số Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và vùng kinh tế số 1 của đất nước đang bị đe dọa. Thiết nghĩ, đó cũng là lúc để chúng ta cần thêm nữa tri thức từ chính thăng trầm của ông cha trong quá khứ.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.