Tây dịch thơ ta

Thời Pháp thuộc, ở Huế có một thầy giáo người Việt làm luận văn bằng tiếng Pháp về đề tài "Tục ngữ, ca dao Việt Nam". Bấy giờ, có một viên chức người Pháp làm việc ở thành phố này, lúc nào cũng huênh hoang, tự phụ cho mình là người nước ngoài rất thông thạo bản xứ...

Biết vậy, thầy giáo này liền tìm gặp ông ta, nhờ dịch hộ hai câu thơ sau ra tiếng Pháp:

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương

Không ngờ, vị quan Tây này nói tiếng Việt thì tàm tạm, nhưng còn lâu mới có thể hiểu hết cái diệu vợi và tinh tế trong tiếng Việt! Bởi thế khi dịch, bí chỗ nào ngài lại lấy từ điển ra tra rồi dịch nguyên xi. Ví như: "Cành trúc" dịch là "roi tre"; "la đà" là "con la và con lạc đà"; "Thiên Mụ" là "vợ Trời"; "canh gà" là "canh thịt gà" và "Thọ Xương" dịch là "khúc xương nấu kỹ"... Cuối cùng ngài hì hục ghép chữ vần thành một bài thơ đem tặng lại ông giáo.

Đọc xong, ông giáo nảy ra một ý ngồ ngộ, liền đem "bài thơ" tiếng Pháp này nhờ một tay thông ngôn (phiên dịch) dịch ra thành bài thơ tiếng Việt. Rất trung thành với nguyên bản Pháp văn, lại cũng giàu tâm hồn nghệ sĩ, anh thông ngôn đã dịch thành bài lục bát sau đây:

Roi tre vun vút vung ra
Lũ lạc đà với lũ la chạy cuồng
Vợ Trời gióng một hồi chuông
Gọi về ăn bát canh xương gà tần.

Dịch xong, tên Pháp nghe câu được câu chăng nhưng cũng đủ hiểu ý xỏ xiên, đã tím mặt vì biết là tay thông ngôn chửi mình. Thật là Tây dịch thơ ta... không ra gì thì bị ta chửi. Buốt đến tận tim mà hắn đành ngậm tăm.

Lê Hồng Bảo Uyên

Các tin khác

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Đọc “Hoàng hôn làng” của Bùi Quảng Bạ

Tập thơ 76 bài của tác giả Bùi Quảng Bạ, mở đầu là “Chiều cuối năm”. Tại sao là “Chiều cuối năm”? Bởi người viết xác định: Mình không còn trẻ nữa, đang ở tuổi xế chiều. Cái tuổi mà tâm trạng con người thường hướng về nỗi cô đơn, cảm giác bâng khuâng xa vắng, nỗi ám ảnh về sự héo tàn, mất mát và đầy tiếc nuối. Bài thơ cho phép liên tưởng đến sự gắn kết không thể tách rời với tên của tập thơ “Hoàng hôn làng” (cùng tên một bài thơ trong tập).

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Vũ Hoàng Chương: Ôi ta đã làm chi đời ta!

Gần đây, tôi gặp một nghệ nhân làm gốm và thấy trên bàn của chủ nhân có tờ giấy chép bài "Qua áng hương trà" của thi sĩ Vũ Hoàng Chương (1916-1976). Ông nói, định tìm một câu thơ để viết lên ấm trà trước khi cho vào lò nung. Đột nhiên ông ngâm: "Hồn sen thoảng ngát trà dâng đượm/ Ai biết mình sen rụng xác xơ". Tôi giật mình, vậy thi sĩ Vũ Hoàng Chương không chỉ có "Say đi em" như mọi người vẫn nhắc tới. Chiếc ấm nhỏ còn hương đất vẫn đợi người thảo bút "khói lên tơ".

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.