Sáng tạo nghệ thuật vượt lên mọi lý thuyết

Chủng loại nghệ thuật nào cũng có những định ước về lý thuyết để người sáng tác tuân thủ. Nhưng rất nhiều khi, nhờ vào tài năng của mình, họ đã vượt lên những lý thuyết ấy để sáng tạo nên những tác phẩm kiệt xuất, để đời. Tôi chỉ xin nói trong lĩnh vực âm nhạc và khoanh trong địa hạt ca khúc.

Một lý thuyết ai sáng tác ca khúc cũng không thể không biết là ngắn gọn, hàm súc, tối kỵ sự dài dòng, rườm rà. Thời gian trình diễn một tác phẩm ca khúc (gồm cả phần nhạc dạo đầu, gian tấu, vĩ thanh) thường không quá 5 phút. Người ta vẫn viện dẫn những bài hát nổi tiếng, bất hủ nhất trên thế giới từ trước tới nay đều rất ngắn gọn như "Sérénate" của Sube, "Khát vọng nùa xuân" của Môda, "Chiều hải cảng", "Chiều ngoại ô Mátxcơva" của Xôlôphiép Xêđôi… Nói chung, những bài hát nước ngoài, đặc biệt là của Nga đều cực kỳ ngắn gọn. 

Ở Việt Nam, nhiều ca khúc nổi tiếng cũng như vậy: "Hành quân xa", "Trên đồi Him Lam", "Việt Nam quê hương tôi" (Đỗ Nhuận), "Bước chân trên dải Trường Sơn" (Vũ Trọng Hối), "Đêm Trường Sơn nhớ Bác" (Trần Chung), "Bác đang cùng chúng cháu hành quân" (Huy Thục), "Bài ca nữ anh hùng miền Nam" (Lê Lôi), "Đường về hoàng hôn" (Hồng Đăng)… 

Không thể kể hết những ca khúc ngắn gọn chỉ có độ dài chưa đến 3 phút khi trình diễn. Đặc biệt nhất là dân ca. Không có bài dân ca nào dài quá 2 phút khi hát. Chính vì vậy nên các nhạc sỹ đều thấy rằng viết ca khúc thể một đoạn là khó nhất vì đòi hỏi phải rất ngắn mà giai điệu lại vẫn hoàn chỉnh, thỏa mãn được người nghe.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, tác giả của nhiều ca khúc nổi tiếng.

Tuy nhiên, trong thực tế nhiều bài hát không hề ngắn. Ngược lại, rất dài dòng mà vẫn hay, khiến người nghe yêu thích. Và tác giả của những bài này là những nhạc sỹ nổi tiếng, bậc thầy trong sáng tác ca khúc. Hoàng Vân là trường hợp tiêu biểu nhất. Ông là một trong những cây đa, có sự nghiệp sáng tác âm nhạc bề thế cả về chất lượng lẫn số lượng tác phẩm, in được dấu ấn sâu đậm trong lòng công chúng nhiều thế hệ. 

Nhiều bài hát của ông đã sống mãi theo thời gian như "Hò kéo pháo", "Tâm tình người thủy thủ", "Nổi trống lên rừng núi ơi"! "Quảng Bình quê ta ơi"! "Tình ca Tây Nguyên", "Bài ca người giáo viên nhân dân", "Bài ca xây dựng", "Bài ca giao thông vận tải"… 

Đặc điểm dễ nhận thấy nhất của những bài hát trên là đều dài dòng. Sự dài dòng trong những ca khúc của Hoàng Vân gắn liền với việc ông hay kể lể. Có cảm giác ông tham đưa vào bài nhiều nội dung mà lược bỏ đi thì đều tiếc. Chính vì vậy mà rất ít khi ta thấy những ca khúc của ông chỉ có 1 lời mà thường là 2-3 lời. Không ít bài có đến 4 lời. 

Ở đoạn B nhiều khi ông còn cho hát nhắc lại bằng một lời khác. Thế là thành những 8 lời (đoạn B). Bài ca "Giao thông vận tải" là một ví dụ. "Bài ca người thợ lò" là một trường hợp hiếm hoi Hoàng Vân chỉ soạn một lời ca, bởi bài dài, nếu thêm lời thì ca sỹ phải hát trong 20 phút mới hết.

Vì sao dài, lại nhiều lời ca mà những bài hát của Hoàng Vân vẫn có sức hấp dẫn đặc biệt và các ca khúc này vẫn sống mãi với thời gian? Đó là do cách kể rất có duyên của tác giả với những giai điệu đẹp, độc đáo, rất giàu hình tượng. Trong bài "Hò kéo pháo", Hoàng Vân đã sáng tạo nên một bài hò hiện đại dựa trên chất liệu điệu hò cổ có câu xướng vẫn được bộ đội hay hát trong những lúc sinh hoạt tập thể: “Tình bằng ai ơi! Đèo cao thì mặc đèo cao. Tinh thần phục vụ còn cao hơn đèo”. 

Nhưng điệu hò này vẫn còn dáng dấp cổ, không mới. Ông đã tạo nên: “Hò dô ta nào! Kéo pháo ta vượt qua đèo! Hò dô ta nào! kéo pháo ta vượt qua núi”. Việc tránh dùng những quãng 3 mà triệt để sử dụng quãng 4 đã khiến giai điệu phản ánh được rất sinh động công việc hò kéo pháo cực kỳ nặng nhọc, đòi hỏi nhiều sức lực. Chính vì vậy mà dẫu dài nhưng người nghe vẫn bị cuốn hút. 

Một yếu tố nữa cũng được Hoàng Vân đặc biệt chú trọng là việc luôn thay đổi tiết tấu ở những chỗ cần thiết phù hợp với nội dung lời ca. Điều này khiến cho bài  hát có nhiều màu sắc sinh động và tạo nên được những hình tượng âm thanh giàu sức biểu cảm. Trong bài "Nổi trống lên rừng núi ơi", Hoàng Vân sáng tác năm 1965, ta hãy nghe ông kể: “Ngày mai em vừa tròn 20 tuổi/ Cô gái vùng cao xinh đẹp vô cùng/ Súng khoác trên vai em đi bừa dưới ruộng/ Em là xã viên, em cũng là dân quân…”. 

Bài này ông viết về những cô gái dân tộc ít người ở vùng núi Việt Bắc trong những năm tháng chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ ở miền Bắc năm xưa vừa là xã viên, vừa là dân quân, sản xuất giỏi, bắn máy bay Mỹ cũng cừ. Tác giả khai thác chất liệu dân ca miền núi Việt Bắc, làm nổi rõ trong giai điệu hình tượng những hồi trống róng rả, thúc giục mọi người “ra đồng thăm lúa. Trống giục thâm canh, tấc đất tấc vàng…”. 

Cũng cách bố cục giai điệu không theo lý thuyết gò bó về đoạn mạch, kết cấu của khúc thức và cách tiến hành giai điệu rất phóng khoáng đầy sáng tạo như vậy, ta còn thấy ở các bài khác như "Quảng Bình quê ta ơi!" "Bài ca người thợ lò", "Tình ca người thợ mỏ". 

Sẽ rất khó phân tích được rạch ròi về khúc thức trong các bài hát của Hoàng Vân xem bài nào ở thể 1 đoạn, bài nào 2 hoặc 3 đoạn như thông thường ta vẫn dễ nhận biết ở nhiều ca khúc của các nhạc sỹ khác. Đó thực sự là một sự thú vị, một sự cao tay, “siêu thủ” của Hoàng Vân trong lĩnh vực ca khúc. Ông luôn mở rộng các đoạn theo hướng tự do để đuổi theo cảm xúc, nắm bắt nó, ngõ hầu lùa vào tác phẩm của mình. 

Việc này phải là Hoàng Vân hoặc những bàn tay cao cường trong nghề viết ca khúc mới có thể thực hiện. Với người thiếu tài năng hoặc chưa nhiều bản lĩnh ắt là sẽ làm cho bài hát lủng củng hoặc “đầu Ngô, mình Sở”. Từ Hoàng Vân, thiết nghĩ có thể bổ sung thêm một lý thuyết về tác khúc. Đó là tất cả các hình thức bố cục bài hát hoàn toàn có thể mở rộng hoặc biến báo, miễn là hợp lý và có hiệu quả.

Văn Cao cũng là một trường hợp đáng chú ý về điều đang bàn. Người nhạc sỹ lớn này đã để lại một kho báu vô giá về ca khúc. Bên cạnh nhiều bài rất ngắn gọn, vuông vức, cân đối, chặt chẽ về kết cấu như "Làng tôi", "Ngày mùa"… ta lại thấy có hai bài khá dài là "Thiên thai" (sáng tác trước Cách mạng Tháng 8) và "Sông Lô" (viết trong kháng chiến chống thực dân Pháp). Hát hết bài "Sông Lô" phải mất trên 10 phút. 

Chính vì vậy mà nhiều người gọi bài này là trường ca (bài ca dài). Nhưng trong âm nhạc, không có thuật ngữ “trường ca”. Từ này là của bên thơ. Người ta vẫn gọi những bài thơ dài hàng trăm, hàng nghìn câu là trường ca. Hai bài hát dài của Văn Cao vừa nhắc đều là hai tác phẩm cực kỳ nổi tiếng đã góp phần làm nên tên tuổi tác giả. Nói đến dòng nhạc vẫn được gọi là “tiền chiến”, không thể không nhắc đến "Thiên thai". 

Và nói đến nền âm nhạc kháng chiến, đầu tiên người ta phải nhắc đến "Sông Lô" bên cạnh những "Du kích sông Thao" của Đỗ Nhuận, "Quê em" của Nguyễn Đức Toàn, "Hò dân cày" của Văn Chung, "Nông dân vươn mình" của Lưu Hữu Phước… 

Sức hấp dẫn của "Sông Lô" chính là ở tính chất tráng ca, diễn tả được hùng hồn những chiến công hiển hách của quân dân ta tại Việt Bắc năm xưa mà sông Lô đã chứng kiến. Văn Cao tạo nên bài hát này dài nhưng vẫn rất nhất quán về ngôn ngữ âm nhạc và sự phát triển giai điệu hoàn toàn hợp lý. Điều này khiến những ca sỹ trình diễn bài hát nói dài vậy chứ dài nữa hát vẫn hứng thú. Cũng dài, cũng viết về sông và cùng biểu hiện hiện thực kháng chiến nhưng "Du kích sông Thao" của Đỗ Nhuận lại khác hẳn "Sông Lô" của Văn Cao. 

Ở bài sau, tác giả đã tạo nên một giai điệu rất đẹp với tính chất trữ tình, lãng mạn khiến bài hát mềm mại, mượt mà hấp dẫn người nghe. Hiện thực kháng chiến được hiện ra trong bài này không phải là những chiến công hùng tráng, liệt oanh mà là cảm xúc tinh tế của những người trong cuộc về cuộc kháng chiến đang diễn ra với tình yêu quê hương và niềm lạc quan tin vào ngày chiến thắng không xa. 

Cho đến nay, "Du kích sông Thao" vẫn là một trong những tác phẩm thanh nhạc có giá trị nhất trong nền âm nhạc Việt Nam hiện đại. Nằm trong số những bài dài mà rất hay còn có hai bài nổi tiếng của Nguyễn Văn Tý cùng viết về Hà Tĩnh là "Một khúc tâm tình của  người Hà Tĩnh" và "Người đi xây hồ Kẻ Gỗ".

Và không ít bài hát của nhiều nhạc sỹ khác có độ dài về thời gian vượt quá thông lệ theo lý thuyết sáng tác ca khúc nhưng vẫn khiến công chúng ưa thích. Mới hay mọi lý thuyết trong sáng tạo nghệ thuật luôn phải nhường chỗ cho hiệu quả cuối cùng. Đó là sự chấp nhận, ngưỡng mộ của đông đảo công chúng mọi thế hệ theo thời gian.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.