Rắn - những đối sánh biểu tượng!

Ở hầu hết mọi ngôn ngữ có "rắn" đều được dùng thêm nghĩa bóng để chỉ những nét tính cách xấu, ví như trong tiếng Pháp, từ "serpent" nghĩa là con rắn, cũng để chỉ loại người nham hiểm. Thành ngữ Việt có câu "Cõng rắn cắn gà nhà" chỉ loại Việt gian bán nước, cúi đầu làm đầy tớ cho giặc cướp nước...

Xuất phát từ đời sống thực, hình tượng con rắn trườn bò uốn lượn vào văn hóa nhân loại để rồi trở thành một trong những cổ mẫu giàu ý nghĩa nhất, mang đặc tính đa dạng của loài: có thể cắn chết người nhưng lại cứu giúp người (nọc độc được chiết xuất làm thuốc chữa bệnh, góp phần tạo cân bằng sinh thái loại trừ loài chuột đáng ghét…).

Bản chất văn hóa là đa dạng, ở mỗi vùng, chịu sự quy định của quy luật khúc xạ văn hóa, biểu tượng đa nghĩa này lại ánh lên những lớp ý nghĩa đối cực, tốt và xấu, sự sống và cái chết, hủy diệt và tái sinh, dục vọng và tội lỗi… Tất nhiên có những điểm chung thú vị.

Ở hầu hết mọi ngôn ngữ có "rắn" đều được dùng thêm nghĩa bóng để chỉ những nét tính cách xấu, ví như trong tiếng Pháp, từ "serpent" nghĩa là con rắn, cũng để chỉ loại người nham hiểm. Thành ngữ Việt có câu "Cõng rắn cắn gà nhà" chỉ loại Việt gian bán nước, cúi đầu làm đầy tớ cho giặc cướp nước...

11-2.jpg -1
Tượng Đức Phật đản sinh được rắn tắm!

Là linh vật, trở thành vật tổ (tôtem) ở nhiều nơi vì nét nghĩa chung ngoài đời là rắn sống ở hầu hết mọi nơi, trên núi, dưới biển, sa mạc, rừng rú, trên cây, dưới đất có đủ các kích cỡ, màu sắc, … Hình dạng và đặc trưng di chuyển dễ hình dung với những con sông uốn lượn (nhìn từ trên cao). Loài rắn hổ mang lại hay phát ra tiếng gió "phì phì" được gắn với ý nghĩa biểu trưng cho bão tố. Lưỡi rắn được gắn với hình ảnh tia chớp, biểu hiện sớm của cơn mưa. Màu sắc và các sọc của rắn được gắn với hình ảnh cầu vồng...

Có đặc tính thay da gần gũi với biểu trưng cho sự tái sinh, bất tử. Có thể vì lẽ này mà các Pharaong Ai Cập thường mang trên mình hình ảnh rắn với mong muốn được bất tử. Ngày nay vẫn còn nặng quan niệm rượu rắn sẽ giúp khỏe khoắn, dẻo dai (cho cánh đàn ông). Là loài vật xa cách với con người luôn mang đến sự ngạc nhiên, bí ẩn, vì thế lại càng kích thích sự khám phá, tưởng tượng. Thời nguyên thủy, vì không đủ tri thức để giải thích, cũng vì sợ nên con người thần thánh hóa mà cầu cúng nên rắn càng trở nên hoang đường có phần kỳ bí. Rắn đi vào tôn giáo, tín ngưỡng như một tất yếu.

Thuộc vùng văn minh sông nước nên người Việt coi rắn như một thủy thần, thậm chí nâng lên thành vật tổ. Nhiều nghiên cứu chứng minh thuyết phục dấu vết của tục thờ vật tổ rắn ở nhiều nơi nước ta. Mô-típ rắn xanh được nhắc đến nhiều lần không chỉ trong văn hóa người Kinh mà có ở nhiều cộng đồng dân tộc khác. Con rồng không có thật, chỉ là sự cách điệu, tổng hợp từ hình ảnh con rắn và cá sấu mà thành. Chùm thần thoại Lạc Việt cũng coi rắn là vật tổ, Lạc Long Quân thuộc họ rồng nên có tục thờ giao long. Người dân xăm hình "giao long" có thể mang ý nghĩa tôn sùng tổ tiên mong tổ tiên luôn đi cùng để phù hộ, giúp đỡ, mọi lúc, mọi nơi… Có nhiều truyền thuyết kể rắn là con nuôi, là mẹ, là vợ, là chồng của người.

Chùm sự tích về Chu Văn An kể học trò của ông là một thủy thần - một con "giao long" đội lốt học trò. Có một chàng trai trẻ vẻ ngoài tuấn tú đến xin học, thầy Chu Văn An nghe trò nói về "tiểu sử" liền bảo rằng đã hiếu học thì ai cũng có thể học. Bạn đồng môn lại thấy người này từ đầm Lân Đàm đi đến trường. Một hôm nhìn thấy trên chỏm đầu anh ta có cánh bèo tấm, nên càng băn khoăn. Năm ấy trời làm đại hạn, thầy Chu hỏi trò ai có cách gì giúp dân, trò thủy thần thưa: "Trái lệnh thiên đình sẽ bị trừng phạt nhưng con xin làm". Người ấy lấy hai nghiên mực một đen, một đỏ và bút lông, mài mực đầy nghiên, ngửa mặt đọc chú, cầm bút chấm mực vẩy lên trời. Lập tức, mực đỏ vung lên thành sấm chớp, mực đen vung lên thì mây đen kéo đến, mưa rơi tầm tã, nước đen như mực. Ẩn đằng sau hành động ấy là dấu vết một phương thuật cầu mưa: vẩy nước lên trời mô phỏng mưa. Ở đây có sự biến hóa: nghiên mực thay cho bát nước, bút lông thay cho "cành phan"…

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu, có thờ Quan ngũ hổ và Quan xà thần là hai loài vật được tôn kính, đại diện cho sức mạnh (hổ) sự dẻo dai, linh hoạt (rắn) trong hệ thống thần linh tứ phủ. Hai vị thần rắn được gọi là Ông Lốt, một màu xanh lá cây (thanh xà đại tướng), một màu trắng (bạch xà đại tướng). Hai "vị" này thường nằm vắt ngang xà nhà của điện thờ, có nhiệm vụ bảo vệ, trừ tà, diệt quỷ, canh giữ âm binh đường thủy... Tục thờ rắn như thủy thần ở một đền miếu riêng còn phổ biến ở trên khắp mọi miền đất nước. Thờ rắn vì rắn bảo vệ (đền thờ Rắn ở xã Cẩm Lương, Cẩm Thủy - Thanh Hóa với quan niệm rắn bảo vệ dòng suối có nhiều cá; ở một vài tỉnh đồng bằng Nam bộ có những ngôi đình thờ rắn…), vì rắn giúp mưa thuận gió hòa (xã Thủy Phù, Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế cũng có bàn thờ rắn, tương truyền "các ngài" là con của thần Gió)…

Rắn trong đạo Phật được "thiêng hóa". Tương truyền hoàng hậu Maya hạ sinh Thái tử Tất Đạt Đa tại vườn Lâm Tì Ni được một vua rắn Naga chín đầu phun nước tắm... Trong tiếng Phạn, Naga có nghĩa là rắn hổ mang chúa, cũng có nghĩa là hủy bỏ mọi tội ác, có nguồn gốc từ Hindu giáo với quan niệm rắn Naga là linh hồn của thiên nhiên, bảo vệ các nguồn nước sông, suối, mạch ngầm, giúp mùa màng tốt tươi. Do vậy Naga là biểu trưng cho sự thịnh vượng.

Ngoài ra linh vật này còn mang ý nghĩa là sự kết nối giữa cõi nhân gian và thiên giới. Hình tượng rắn Naga từ Hindu giáo tiếp biến vào Phật giáo rồi truyền sang Phật giáo Nam tông ở ta (các chùa Khmer Nam bộ) tượng trưng cho Shiva - vị thần của sự hủy diệt. Naga cuộn tròn lấy cái gốc của trục thế gian, biểu trưng cho sự sinh thành, phát triển và hủy diệt, nâng đỡ và ổn định thế giới. Rắn Naga có 3 đầu (tượng trưng cho Thiên-Địa-Nhân), 5 đầu (tức kim, mộc, thủy, thổ, hỏa), 6 đầu (biểu trưng cho phái nữ, thể xác và sự chết chóc), 7 đầu (đắc đạo)...

11-1.jpg -0
Hình ảnh minh họa “vườn địa đàng”!

Huyền thoại về rắn mạnh đến nỗi chi phối cả biểu tượng quốc gia. Người dân Campuchia tin rằng vương quốc Khmer do vua rắn sáng lập nên con đường dẫn đến ngôi đền chính tại Ankhor Wat được khảm nhiều Naga bảy đầu, được tạc trên tường đá. Trong tín ngưỡng người Syria, rắn sẽ cắn chết những kẻ xâm lược và bảo vệ dân chúng khỏi hiểm nguy bệnh tật nên xem rắn như một vị thần phù trợ được thờ ở các đền thờ thiêng…

Từ thực tế rắn tự lột da để sống khỏe mạnh, trẻ trung hơn, người Hy Lạp tin rắn có bí quyết trường sinh bất tử nên coi rắn là biểu tượng của đất và nước. Loại nữ trang cổ Hy Lạp thông dụng nhất mang hình rắn khoanh tròn. Thần Zeus - vị thần tối cao, mùa xuân đến thần sẽ xuất hiện dưới dạng một con rắn cùng với nữ thần cai quản trái đất Rhea cũng mang hình rắn. Thần Chữa bệnh của người Hy Lạp tên là Asklepios được biểu tượng bằng con rắn. Con rắn cuốn trên chiếc gậy là biểu tượng của ngành y. Con rắn cuốn trên chiếc ly có chân, đầu hướng vào miệng ly, là biểu tượng của ngành dược…

Do Thái là tôn giáo đầu tiên cho rắn đội lốt quỷ Satan đến cám dỗ con người ăn trái cây "biết lành biết dữ". Ngoài "Kinh Thánh" ra còn rất nhiều thần thoại khác về rắn đã được lưu hành trước đó rất lâu. Thần thoại Gilgamesh ở xứ Sumeria kể vua Utnaphistim tìm được một loài cây trường sinh, chưa kịp ăn quả thì có một con rắn đã đánh cắp cây quý. Tích này tiếp biến vào sự tích Satan hóa thân con rắn đến cám dỗ Eva nên loài người mất cơ hội trường sinh. Truyền thuyết Kito giáo kể quỷ Satan đội lốt rắn đem "trái cấm" đến dụ dỗ con người.

Chung quanh huyền tích này có những cách hiểu khá thú vị. Từ góc nhìn ẩn dụ phân tâm học có cách hiểu cho rằng "vườn địa đàng" biểu tượng cho tuổi thơ trong vắt, thánh thiện. Giai đoạn "Ađam và Evà bị cám dỗ" biểu trưng cho những khủng hoảng phá phách, thể hiện cái tôi trong tuổi dậy thì ưa tự do, hay chống đối người lớn. Tuổi này đam mê, bồng bột, dễ bị quyến rũ, dễ sa ngã vào tính dục.

Giai đoạn "sống ngoài vườn địa đàng" biểu trưng cho sự trưởng thành, có trách nhiệm trong việc lập thân. Đàn ông phải kiếm sống nuôi gia đình, đàn bà phải mang nặng đẻ đau. Họ phải vượt mọi vất vả để tạo dựng mái ấm gia đình riêng. Vườn địa đàng có thiên thần "cầm gươm đứng gác cửa" biểu trưng cho sự ngăn chặn trốn chạy trách nhiệm. Như vậy, "trái cấm" là bước ngoặt trong đời bất cứ ai. Thì ra đó là câu chuyện về cuộc đời một con người, thế nên "trái cấm" còn có tên gọi khác là trái của cây "biết lành biết dữ". Hiểu vậy thì con người phải cảm ơn rắn đã khơi mở ra cho họ một trang đời mới luôn song hành những đối cực!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).