Giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Vương:

Phê phán cần phải bắt nguồn từ sự hiểu biết

Trong những ngày vừa qua, câu chuyện bản dịch bài thơ "Nam quốc sơn hà" đã trở thành một đề tài "nóng" thu hút sự quan tâm của dư luận.

Câu chuyện xoay quanh bản dịch của hai nhà Hán học Lê Thước và Nam Trân in trong phần dịch thơ bài "Nam quốc sơn hà" trong sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập Một của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam phát hành từ năm 2001:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Vằng vặc sách trời chia xứ sở
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.


Bản dịch trong sách giáo khoa trước đó (mà nhiều thế hệ học sinh từng thuộc) là:

Sông núi nước Nam vua Nam ở
Rành rành định phận tại sách trời
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Trên một số báo điện tử và mạng xã hội vừa qua có nhiều ý kiến tranh luận, trong đó nhiều ý kiến không đồng tình với việc sử dụng bản dịch của Lê Thước - Nam Trân thay cho bản dịch trong sách giáo khoa trước đây. Sau khi Giáo sư Nguyễn Khắc Phi, Tổng Chủ biên sách giáo khoa Ngữ văn 7 tập Một trả lời trên một số báo, đài về vấn đề này, nhiều người vẫn tiếp tục nêu ra những câu hỏi và ý kiến khác nhau.

Về cuộc tranh luận này, Giáo sư, Tiến sĩ Trần Ngọc Vương (Khoa Văn học - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội), có ý kiến như sau:

Những người tham gia làm cuốn sách giáo khoa Ngữ văn 7 đều là những nhà chuyên môn hàng đầu trong lĩnh vực làm sách. Trong đó, Giáo sư Nguyễn Khắc Phi đã có 8 năm làm Tổng biên tập Nhà xuất bản Giáo dục, sau đó ông vẫn tiếp tục được mời đào tạo và viết sách. Giáo sư Nguyễn Đình Chú cũng có gần 60 năm đi dạy học rồi tham gia làm sách… Như vậy có thể nói, nhóm biên soạn đều là những người giàu tri thức, kinh nghiệm.

Giáo dục là lĩnh vực rất khó, rất nhạy cảm. Lâu nay chúng ta không có một hệ thống quan niệm về giáo dục một cách mạch lạc và hệ thống sách giáo khoa nói riêng cũng chưa bao giờ được đưa ra thảo luận, bàn luận một cách thật rộng rãi giữa những người có thẩm quyền hoặc những người thuộc vào hàng có thẩm quyền. Điều này dễ làm phát sinh những ý kiến "ngược dòng", những phản biện, ý kiến trái chiều không đáng có. Tôi quan niệm sự kiện liên quan đến bài thơ vừa rồi chỉ là bề nổi nhìn thấy của sự bất bình mang tính xã hội về giáo dục, mà một số lượng người khá đông đang cảm thấy bất ổn.

Tuy nhiên, theo tôi, sự phê phán cần phải bắt nguồn từ sự hiểu biết và sự nghi ngờ mang tính khoa học cần thiết, chứ cứ nói tùy tiện là không được!

Về bản dịch bài thơ "Nam quốc sơn hà" của Lê Thước - Nam Trân, một số tờ báo, một số người đang bị ngộ nhận khi nói đây là bản dịch mới, điều này là không đúng vì hai dịch giả đều là những người đã mất cách đây khoảng 40 năm thì làm sao có thể nói là mới! Thậm chí, có phóng viên khi gọi điện cho tôi còn nói không cần biết hai người dịch bài thơ này là ai! Tôi có thể nói, ngay cả Giáo sư Nguyễn Khắc Phi và Giáo sư Nguyễn Đình Chú cũng phải đối diện với những tên tuổi này với một sự kính trọng, khâm phục, vì đây là những bậc trưởng bối rất lão luyện trong lĩnh vực Hán Nôm.

Cụ Lê Thước là người đỗ giải Nguyên (đỗ đầu) trong kỳ thi hương cuối cùng của nền thi cử Hán học (năm 1919), có công rất lớn trong việc hệ thống lại tư liệu cổ của toàn bộ lịch sử văn học Việt Nam, là tác giả của nhiều công trình đứng tên riêng. Còn cụ Nam Trân từng giữ chức Thị lang thời Nguyễn, là một người sành văn học, có nhiều kinh nghiệm và uy tín trong dịch thuật... Có thể nói, đây là những người có "quyền uy" trong học thuật, thận trọng trong từng con chữ với thái độ trách nhiệm rất lớn. Vậy hai người này kết hợp lại để dịch một bài thơ gồm 28 chữ với tư cách là hai bậc trưởng lão vào lúc tuổi già thì khó có thể nghi ngờ! Khi chúng ta thực hiện một bản dịch thì phải đảm bảo về "tín, đạt, nhã" nghĩa là chính xác, đáng tin, truyền đạt hết ý tưởng của tác giả và đẹp trong câu từ. Trong đó yêu cầu cuối cùng là "nhã" chính là câu chuyện dẫn đến những ý kiến phản ứng đối với bản dịch này. Tôi cho rằng sự phản ứng nằm ở hai điểm, thứ nhất là từ "vằng vặc", thứ hai là cách gieo vần trắc có phần khó nghe.

Trong bài thơ "Nam quốc sơn hà", có thể nói "thiên thư - sách trời" gắn với bầu trời đầy sao. Theo nghiên cứu thiên văn học truyền thống, 28 vì sao (nhị thập bát tú) được phân bổ trong 4 phương, sao nào chiếu xuống địa phận vùng nào thì sẽ ứng với địa phận của nước đó. Từ "vằng vặc" không chỉ được dùng cho ánh trăng như hiểu biết của một số người mà "vằng vặc" còn có thể dùng cho ánh sao nữa, và khi nói "sao sáng vằng vặc" thì có nghĩa là vận của nước đó đang hanh thông, đang đi lên. Ngoài ra, việc sử dụng từ "vằng vặc" cũng làm cho tính biểu cảm của câu thơ cao hơn, và đây có lẽ là lý do dịch giả muốn dùng để nâng cao tính biểu cảm cho bản dịch. Còn từ "rành rành" thì thô hơn, nôm hơn và đặc biệt không thể hiện được vận nước đang sáng, đang đi lên!

Về thanh điệu của bài thơ, dù có nhiều dị bản khác nhau với một vài thay đổi, nguyên bản chữ Hán vẫn là bài thơ vần bằng. Có lẽ, theo hai cụ Lê Thước - Nam Trân, vần bằng không truyền đạt được dụng ý bực bội, nổi giận, không bằng lòng, vì vậy các cụ đã chuyển sang vần trắc để độ gằn của câu thơ cao hơn, độ nhấn mạnh của bài thơ dễ được cảm nhận hơn. Điều này hoàn toàn đúng với tâm trạng của người dân khi đất nước đang bị ngoại bang xâm lược!

Theo tôi, không cần điều chỉnh bản dịch của bài thơ "Nam quốc sơn hà" khi tái bản sách giáo khoa mới, tuy nhiên các nhà làm sách nên giải thích rõ hơn về sự lựa chọn của mình, mặc dù đây không phải là thông lệ. Trong đó, tác giả cần giải thích tại sao dùng từ "vằng vặc", rồi câu chuyện dùng vần trắc... Tôi được biết Giáo sư Nguyễn Khắc Phi đã có giải thích nhưng chưa rõ, chúng ta phải nói rõ hơn về thẩm quyền chuyên môn của các dịch giả để đánh tan những nghi ngờ dù vô tình hay hữu ý. Bên cạnh đó, theo tôi chúng ta cũng có thể để thêm bản dịch trước đây mà nhiều người yêu thích để học sinh tham khảo, đối sánh giữa 2 bản dịch, từ đó tạo ra lối tư duy mở cho các em.

Tóm lại, tôi cho rằng đây chỉ là một sự cảm nhận khác nhau mang tính thế hệ và thói quen trong văn học, không phải là vấn đề mang tính tư tưởng hay chính trị để làm to chuyện lên như vừa qua!

Qua câu chuyện này, tôi cũng muốn đề cập rộng hơn về vấn đề khung chương trình văn học hiện nay của học sinh phổ thông cần bố trí lại như thế nào hợp lý hơn. Chương trình giáo dục phổ thông có vai trò rất quan trọng đối với học sinh, đó là hành trang vào đời cho mỗi con người, trong đó môn Văn là một trong những môn quan trọng nhất.

Đối với văn học cổ, đặc biệt là văn học chữ Hán cần phải có một vốn liếng cổ ngữ nhất định thì mới hiểu được, nhưng học sinh phổ thông của ta hiện nay chưa có cái đấy. Để giảng văn có hiệu quả, tôi đề nghị đảo lại khung chương trình, trong đó văn học hiện đại và cận đại nên đưa xuống những lớp thấp còn văn học cổ đại nên đưa lên lớp cao hơn, vì văn học cổ cần lượng chữ nghĩa, kiến thức phức tạp hơn để hiểu được người xưa. Việc đưa những tác phẩm khó lên các lớp cao sẽ thuận hơn với sự phát triển trí tuệ của học sinh.

Bên cạnh đó, theo tôi, những người làm sách giáo khoa, dạy văn cũng cần trang bị lại kiến thức về văn học, đặc biệt là văn học cổ, phải hiểu đúng nội dung thì mới có thể định hướng đúng…

Tại sao bản dịch bài "Nam quốc sơn hà" trong sách Ngữ văn 7 đã dùng sang năm thứ 15 rồi bây giờ vấn đề mới đặt ra, đó là vấn đề cần suy nghĩ thêm. Cho dù người nêu vấn đề với động cơ nào và các ý kiến đóng góp ra sao thì các tác giả sách giáo khoa vẫn phải có thái độ bình tĩnh, khiêm tốn và cần phải có bản lĩnh để rút ra được bài học cần thiết. Giả dụ có những ý kiến hiểu lầm thì cũng phải tìm hiểu vì sao có hiện tượng đó để khắc phục. Về bài "Nam quốc sơn hà", dù có nhiều ý kiến, trong đó có những ý kiến gay gắt, chúng tôi thấy cũng không có vấn đề gì lớn đến mức phải thay bản dịch. Việc đánh giá khác nhau về chất lượng các bản dịch là chuyện rất bình thường, vấn đề cơ bản nhất là sách giáo khoa chúng tôi đã hướng dẫn cho học sinh tìm hiểu được, thấm được linh hồn của tác phẩm: ý thức về chủ quyền, tinh thần bình đẳng dân tộc, quyết tâm chống xâm lược và niềm tin tất thắng.

Việc trao đổi vừa qua một mặt có thể làm cho các giáo viên lưu ý đi sâu thêm tìm hiểu văn bản quan trọng này, đồng thời có thể gợi mở cho giáo viên vận dụng phương pháp giảng dạy mới trên ngữ liệu đã có. Chẳng hạn, như có người đề nghị ra những đề mở, cho học sinh dựa trên những bản dịch khác nhau để so sánh những chỗ dị đồng, và nếu có thể thì phát biểu cảm tưởng, suy nghĩ, đánh giá của mình.

GS Nguyễn Khắc Phi

Đức Thái - Kim Sơn (ghi)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).