Bật mí về “Trường Y”
Một sáng mùa thu, trung tuần tháng 9/2026. Mấy mươi chị em từ khắp các tỉnh, thành cả nước tề tựu ở Ninh Bình để tổ chức kỷ niệm 60 năm lớp “Nữ trinh sát đặc biệt” của lực lượng Công an nhân dân. Họ đã ngoài 70 xuân nhưng gặp nhau cứ tíu tít “mày, tao” như thuở mới vào trường. Kỷ niệm ngày tựu trường mấy năm nay không còn người phụ trách “Trường Y” - nhà tình báo Mười Hương, tên thật là Trần Quốc Hương (1924-2020). Ông là bậc lão thành cách mạng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, nguyên Cục trưởng Cục K68 (Bộ Công an), người chỉ huy lỗi lạc của các nhà tình báo huyền thoại như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ...
Sau sự kiện Vịnh Bắc Bộ tháng 8/1964, đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh ác liệt bằng không quân, đồng thời tiếp tục tiến hành chiến tranh gián điệp biệt kích phá hoại ở miền Bắc. Năm 1966, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn chủ trương mở một lớp đào tạo đặc biệt để có thể bố trí hoạt động bí mật ở vùng địch hậu lâu dài, giao cho ông Viễn Chi, Cục trưởng Cục Bảo vệ chính trị cử cán bộ đi một số tỉnh ở miền Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Nghệ An, Quảng Bình... trực tiếp tuyển chọn 60 học sinh nữ, độ tuổi 12 đến 15, có đủ phẩm chất để đào tạo thành những “trinh sát đặc biệt”.
Lúc này, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn đề nghị ông Trần Quốc Hương, người từ miền Nam ra đang nóng lòng muốn trở lại chiến đấu ở chiến trường về Bộ Công an làm Cục trưởng Cục K68 (nay là A06). Đồng thời, Bộ trưởng cũng giao cho ông trọng trách phụ trách khóa “Nữ trinh sát đặc biệt”.
Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nói: "Người có thể đào tạo lớp hoạt động địch hậu không ai khác ngoài đồng chí Mười Hương”. Ông Trần Quốc Hương được giao phụ trách chung, soạn chi tiết nội dung và thời gian học tập, chương trình vừa học vừa thực hành. Dưới ông Mười Hương còn có 3 lãnh đạo cấp Cục quản lý. Khóa học đặc biệt này được gọi là “Trường Y” và chia thành 3 lớp Y1, Y2, Y3. Giáo viên là các giảng viên chính trị, nghiệp vụ, kỹ thuật và thông tin vô tuyến điện được lựa chọn từ Trường Công an Trung ương (C500) và Cục K68.
Ngay cái tên “Trường Y”, lâu nay nhiều người không biết ngọn nguồn vì sao lại có mật danh này. Việc lấy tên “Trường Y”, theo Thiếu tướng Phạm Văn Hùng (Phó Tư lệnh Cảnh vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ; người có nhiều năm gắn bó với đồng chí Trần Quốc Hương) kể lại, anh đã có lần hỏi ông Mười Hương và được “bật mí”: Sở dĩ, đặt tên là “Trường Y” vì đây là một trường đào tạo đặc biệt về công tác tình báo và an ninh cho nên phải có vỏ bọc ngụy trang, không giống như mật danh các trường công an khác như C, E, D... Thực tế, "ngôi trường" này mang một trọng trách đặc biệt quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tài trí lãnh đạo, tổ chức cuộc kháng chiến của Đảng ta và Bộ Công an.
Trong điều kiện chiến tranh gian khổ, khóa “Trường Y” được phân ra theo nhóm, ở nhờ nhà dân tại làng Rùa, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội). Do yêu cầu bí mật và khẩn trương, các lớp Y1, Y2, Y3 được tổ chức học riêng, lớp này không biết lớp kia học gì. Các học viên đều được thay tên đổi họ để hướng tới hoạt động bí mật lâu dài.
Chương trình học tập, rèn luyện của lớp nữ trinh sát đặc biệt hết sức nặng nề, nghiêm túc. Nửa năm đầu tập trung học chính trị, bắn súng, bơi lội, võ thuật. Sau đó tiếp tục học nghiệp vụ trinh sát và thông tin vô tuyến điện, các học viên còn phải thực tập bắt liên lạc giữa những cánh đồng mênh mông trong đêm tối, tập đào hầm và sống trong hầm bí mật, tập tự rút máy thông tin, mắc ăng-ten mà không để bị địch phát hiện. Các chị tập bắt liên lạc bằng hộp thư chết, tạo vỏ bọc hợp pháp đơn tuyến và kiên định khí tiết cách mạng, kiên cường, bất khuất trước mọi thử thách, gian nguy. Họ còn được tập trung học và rèn luyện những kỹ năng hành quân, bơi lội, vượt rừng, mang nặng để có thể vào chiến trường miền Nam...
Trong quá trình học tập, Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn rất quan tâm, đã đến thăm và động viên các cán bộ, học viên đặc biệt này. Cục trưởng Trần Quốc Hương thường xuyên thăm hỏi, kiểm tra và khuyến khích các học viên mà ông coi như con cháu của mình. Thượng tá Nguyễn Thị Hải (tên gọi khi học ở “Trường Y” là Lâm), Ủy viên Ban liên lạc Công an chi viện chiến trường miền Nam nhớ lại: Trước yêu cầu đòi hỏi chi viện cán bộ cho chiến trường miền Nam, 100% học viên làm đơn tình nguyện xin được chi viện vào miền Nam. Trong số đó, có 6 học viên được lựa chọn chi viện chuyến đầu trước Tết Mậu Thân 2 tháng vào khu Trị Thiên Huế: 2 chị thuộc lớp Y3; vào Khu V có 2 chị thuộc lớp Y2; vào Nam Bộ có 2 chị lớp Y1. Năm 1969 có 12 chị được chọn tiếp tục chi viện vào chiến trường trải dài từ khu 5, khu 10 đến khu Sài Gòn - Gia Định.
Góp phần vào chiến thắng vĩ đại của dân tộc
Thật khó tưởng tượng, 18 cô gái nhỏ bé của khóa “Nữ trinh sát đặc biệt” đã “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, vai đeo ba lô, chân đi dép cao su trèo đèo, lội suối hành quân khẩn trương vào miền Nam. Họ được bố trí làm nhiệm vụ chính là hiệu thính viên của các đài vô tuyến điện ở an ninh các khu tại miền Nam liên lạc với Bộ Công an và thực hiện các nhiệm vụ khác của lực lượng an ninh tiền phương. Trong điều kiện cực kỳ gian khổ, khó khăn, các “nữ trinh sát đặc biệt” đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Những nỗ lực, sự hy sinh thầm lặng, những chiến công của các cô gái trẻ “Trường Y” đã góp phần quan trọng vào thành tích lực lượng Công an chi viện chiến trường miền Nam. Và, “Tổ 19” - “Tổng đài đặc biệt” của Cục Thông tin liên lạc (Bộ Công an) được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Còn khoảng ba chục học viên của lớp đã được bố trí công tác về Cục Thông tin liên lạc (K68 - sau là KG-2, A22) công tác tại các phòng nghiệp vụ Tình báo điện đài, Phản gián điện đài và Thông tin liên lạc. Trong quá trình công tác và chiến đấu, các nữ trinh sát đặc biệt đã hăng hái và tích cực thực hiện nhiệm vụ lập nhiều thành tích trong cuộc đấu trí với gián điệp biệt kích Mỹ - ngụy tung ra miền Bắc, thu thập nhiều thông tin quan trọng của các lực lượng quân sự, tình báo, chính quyền Sài Gòn và các đối tượng quan trọng khác, góp phần tích cực vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi thống nhất đất nước, lực lượng trinh sát nữ đặc biệt lại bước vào cuộc chiến đấu mới bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội. Nhiều chị đã tham gia và góp phần thắng lợi trên mặt trận đấu tranh chống gián điệp, phản động, bảo vệ an ninh kinh tế, an ninh xã hội... trong các chuyên án lớn như Kế hoạch CM-12, đấu tranh chống phản động FULRO, góp phần thực hiện nghĩa vụ quốc tế với cách mạng Lào và Campuchia...
Các phòng Tình báo điện đài, Phản gián điện đài, Mã thám của Cục A22 được phong tặng danh hiệu đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Cục Kỹ thuật nghiệp vụ I đã 2 lần được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập, Huân chương Quân công và nhiều Huân chương Chiến công... Các nữ trinh sát đặc biệt năm xưa tự hào có sự đóng góp vào những chiến công, những thành tích xuất sắc ấy. Họ là những bông hoa tươi thắm trong lực lượng Công an nhân dân Việt Nam.