Những khúc biến tấu của gió!

Mùa xuân đến, ngắm những nụ đào rung rinh trước gió, hẳn nhiều người nhớ về một câu “Kiều”: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”. Câu này có tích từ chuyện nhà thơ Thôi Hộ (đời Đường) đi chơi tiết thanh minh gặp một vườn đào rất đẹp, một ngôi nhà đơn sơ, xinh xắn bèn gõ cửa xin nước uống. Một cô gái tuổi trăng tròn đẹp như hoa nở xuất hiện trước cửa ý nhị mời người khách vãng lai...

Xao xuyến thẫn thờ trước cảnh đẹp, người đẹp, thi nhân muốn có ngay một bài thơ, nhưng cố mãi mà không ra ý tứ gì. Hình như đây cũng là một quy luật sáng tạo: nhiều khi quá ngưỡng, nồng nàn tràn trề cảm hứng nên chưa thể “xuất khẩu thành chương” (?).

image001.jpg -0
Thần gió Fujin (Nhật Bản).

Phải một năm sau kỷ niệm giục nhà thơ quay trở lại tìm thi hứng. Nhưng cảnh còn mà người vắng, vườn đào vẫn đẹp nhưng cửa nhà khóa. Không một bóng người. Chính lúc ấy “thần hứng” mới nhập để có một thi phẩm nổi tiếng muôn đời: “Khứ niên kim nhật thử môn trung/ Nhân diện đào hoa tương ánh hồng/ Nhân diện bất tri hà xứ khứ/ Đào hoa y cựu tiếu đông phong” (Ngày này năm ngoái trong cửa này/ Mặt người và hoa đào cùng ánh hồng vào nhau/ Mặt người không biết đi xứ nào/ Hoa đào như cũ cười với gió đông).

Bài thơ đầy đủ và tiêu biểu cho vẻ đẹp thơ Đường hàm súc, dư ba, gợi mà không tả: Người đẹp như hoa hay hoa đẹp như người!? Một cái buồn sâu thẳm nhưng không bi, không não nề (như thơ bây giờ)... Một cái buồn trong vắt, thật đẹp và thật nhân văn. Thì ra để có thơ hay phải công phu và tài năng thật. Còn may mắn nữa! Giả sử nhà thơ lại được gặp cố nhân thì chắc không có bài thơ này!

Hình tượng “đông phong” (gió đông) thổi vào văn hóa phương Đông kết thành cổ mẫu (mẫu gốc) biểu tượng cho mùa xuân! “Chàng” gió xuân này là một sứ giả xe duyên cho biết bao đôi tình nhân hoặc đưa tin tốt lành tới bao người. Đã từng giúp thi nhân Nguyễn Trãi mở “lá” thư tình là “đọt chuối non”: “Tình thư một bức phong còn kín/ Gió nơi đâu gượng mở xem” (“Cây chuối”).

Cũng trong “Kiều” lại có một “làn gió” khác: “Dập dìu lá gió cành chim/ Sớm đưa Tống Ngọc, tối tìm Tràng Khanh” thì vẫn có “mẫu gốc” từ thời nhà Đường. Ở xứ Thành Đô, nhà nho Trịnh Sinh có một con gái tên Tiết Đào rất xinh đẹp. Đã thế lại rất thông minh, sắc sảo. Sáu tuổi đã có thơ hay. Một sáng thu, hai cha con ngồi chơi trước cửa ngắm cây ngô đồng với từng chiếc lá vàng xao xác rơi, người cha làm hai câu thơ... Không đợi cha tiếp tục, Tiết Đào đọc luôn: “Chi nghinh Nam Bắc điểu/ Diệp tống vãng lai phong” (Cành đón chim Nam Bắc/ Lá đưa gió lại qua).

Giật mình sửng sốt vui mừng vì có người con yêu là một tài năng văn chương. Nhưng rồi, với sự nhạy cảm của thi nhân, một linh cảm của người cha, ông lại buồn sững sờ: Con mình có tài nhưng mà rất khổ. Bởi trong thơ con ý tứ phóng túng có phần lả lơi... Thời gian thoi đưa. Trịnh Sinh qua đời. Phải nuôi mẹ già, nhà lại rất nghèo, Tiết Đào nuốt nước mắt buộc đi làm nghề kỹ nữ.

Nhờ tài hoa đủ cầm kỳ thi họa, nàng trở nên nổi tiếng chốn lầu hồng. Bao chàng trai phong lưu mã thượng đến ngắm nàng chứ không muốn lấy nàng, không có ai nghĩ đến việc kết tóc xe tơ. Nhưng một nhà thơ nổi tiếng tên Nguyên Chẩn xuất hiện, họ hợp nhau xướng họa, đồng thanh tương ứng... Nguyên Chẩn ra đi hẹn ngày trở lại “đưa nàng về... dinh”. Nhưng chàng đi thì giặc giã ập tới. Tiết Đào xiêu bạt. Nguyên Chẩn cho người đến tìm nhưng “bóng chim tăm cá”... Về sau có người nói rằng Tiết Đào chết trong cô độc!!!

untitled-11.jpg -0
Giông bão!

Thế là từ bấy giờ câu thơ định mệnh từ hồi nhỏ của nàng đi vào vườn điển tích mọc lên cây biểu tượng “lá gió cành chim” chỉ việc đưa đón khách làng chơi. Hoàn cảnh rất phù hợp với “mẫu gốc”: Người kỹ nữ như lá như cành đón những ngọn gió lả lơi, những cánh chim đến đậu... Tài năng Nguyễn Du ngoài cách dùng điển rất hợp, còn là cái tình thương cảm kiếp người tài hoa bạc mệnh!

Trong thần thoại Hy Lạp cổ có 4 vị thần đại diện cho 4 ngọn gió đều là con trai của nữ thần Rạng đông Eos và thần chiêm tinh Astraeus: Zephyrus - cơn gió Tây của mùa xuân, Notus - cơn gió Nam của mùa hè, Eurus - cơn gió Đông của mùa thu và Boreas - thần gió Bắc lạnh lẽo. Các vị thần này đem lại mưa gió thuận hòa, nhưng cũng có khi đem tới bão tố khủng khiếp. Trong số này Zephyrus là vị thần “lăng nhăng” nhất.

Vào mùa xuân chàng thường hóa thành những con ngựa gió để giao phối với bầy ngựa cái sinh ra cả đàn ngựa con. Zephyrus còn cưới nữ thần cầu vồng Iris và sinh ra một người con trai là vị thần của Đam mê Pothus. Có lẽ Zephyrus là người đầu tiên có tình yêu đồng giới, đem lòng yêu chàng trai trẻ đẹp Hyacinthus. Không được đáp lại, Zephyrus đã thổi bay chiếc vòng đập trúng đầu Hyacinthus. Tiếc thương một chàng trai chết oan, thần Apollo hóa Hyacinthus thành loài hoa dạ lan hương. Như vậy người Hy Lạp cổ xưa đã cắt nghĩa gió rất phức tạp, biết yêu nồng nàn đam mê và khi tức giận thì cũng giết chết cả người khác!

Tại sao gió lại gắn với sự phong tình phồn sinh trong mùa xuân như vậy? Vì một thực tế ngoài đời sống là mùa xuân đến, gió sẽ làm công việc thụ phấn cho các loài hoa. Cùng với các loài côn trùng khác, gió xuân đủ nhẹ để góp phần tạo ra ý nghĩa sinh sôi nảy nở này!

Thần thoại La Mã còn kể thêm, nhờ mối tình của Zephyrus với nữ thần hoa cỏ Chloris đã làm cho đất đai màu mỡ và khí hậu ôn hòa, cây trái tốt tươi.

Ngụ ngôn Aesop có “Thần Gió và Mặt trời” triết lý về kẻ mạnh yếu không hẳn ở vũ lực. Hai thần cãi nhau đều cho rằng mình khỏe hơn. Mặt trời bảo ai làm cho người khách bộ hành kia phải cởi chiếc áo ra sẽ là kẻ mạnh nhất!

Thần Gió hữu dũng vô mưu tạo ra những cơn cuồng phong kèm với cái lạnh buốt da, buốt thịt. Nhưng gió càng lớn người kia càng cố giữ chặt chiếc áo. Đến lượt Mặt trời, thần tỏa ra những tia nắng vàng, người bộ hành cảm thấy ấm áp bèn nới cúc áo. Trời càng lúc càng nóng, người bộ hành tự động cởi bỏ áo khoác. Thế là Thần Gió thua cuộc vì tuy có sức mạnh nhưng thiếu trí khôn. Bài học giáo dục bật ra: Mỗi người phải biết tận dụng thế mạnh riêng của mình, phải biết khiêm tốn mới thành công được!

Nằm giữa đại dương tất nhiên hứng gió từ bốn phương nên văn hóa Nhật Bản tôn thờ thần gió Fujin và thần sấm Raijin. Truyền thuyết ca ngợi họ là những bậc “khai quốc công thần” nên được thờ cúng long trọng ở những ngôi đền lớn nhất. Nhưng chính vì thế mà Fujin và Raijin trở nên kiêu căng, Raijin trong trang phục màu đỏ, khuôn mặt dữ tợn, tay luôn cầm trống taiko khi gõ phát ra sấm chớp. Fujin có hình tướng gớm ghiếc của loài quỷ sứ có cái đầu mọc sừng trâu, mình quấn khố da hổ, hai tay luôn cầm chặt túi gió vì nếu túi này được mở sẽ tạo ra một trận đại cuồng phong cùng vòi rồng và bão tố...

Đất nước Trung Hoa cổ được thiên nhiên ưu ái nằm giữa đại lục, đất đai tươi tốt, cây cỏ hiền hòa, phong phú các loài động vật nên gió đi vào văn hóa có tên Phong Bá – một hình tượng của Đạo giáo có thân của nai, đầu chim, sừng hươu, đuôi rắn. Khi chạy thì hóa thân vào con báo. Vì gió vô hình vô ảnh nên được “hữu hình hóa” thành mô hình các con vật nhưng có mối liên hệ gần gũi. Ví như rất đúng với thực tế là báo chạy nhanh nhất trong các loài vật, đúng là “nhanh như gió” vậy!

Về bản chất, gió sinh ra từ sự chênh lệch áp suất khí. Sinh sống ở vùng nhiệt đới gió mùa nên người Việt làm bạn với gió mưa. Kho từ vựng người Việt, “gió” rất giàu có ý nghĩa. Ngay trong “Truyện Kiều” đã tới 40 lần gió “thổi”. Là “gió mây” chỉ vận hội tốt đẹp: “Gió mây bằng đã đến kỳ dặm khơi”; là “gió mưa” chỉ tai biến bất ngờ: “Gió mưa âu hẳn tan tành nước non”; là “gió trăng” chỉ cảnh thanh nhàn “Đề huề lưng gió túi trăng”...

Cổ tích người Việt lý giải sự sinh ra của gió là do trẻ con nghịch ngợm. Hôm ấy Thần Gió đi vắng, vì tò mò, đứa con nghịch cái quạt thần tạo gió của bố. Thế là gió xối xuống hạ giới hất tung giá gạo người nông dân vừa đi vay về để nấu cháo cho vợ ốm. Người nông dân bèn kiện lên trời. Ngọc Hoàng lệnh đày đứa trẻ xuống làm kẻ ở cho người nông dân nọ. Sau đó còn biến nó thành cây ngổ gió mỗi khi sắp có dông bão thì báo cho mọi người biết bằng cách tự cuốn lá lại. Cây này còn dùng để trị chữa cảm mạo cho trâu bò. Rất đúng với cách sống duy tình, với người Việt coi gió như đứa trẻ con thân thương, gần gũi, đáng yêu nhưng có lúc thật ngỗ nghịch, khó bảo.

Những khúc biến tấu của gió chính là biến tấu của văn hóa!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).