Những cánh thư vượt thời gian

Đã ở tuổi xưa nay hiếm, hàng ngày bà vẫn cặm cụi viết hồi ký như để lưu giữ những kỉ niệm không thể phai mờ về người chồng quá cố, về chặng đời gian truân nhưng đầy tin yêu và hy vọng của hai ông bà. Đặc biệt hiện tại bà vẫn lưu giữ hàng nghìn bức thư tay mà ông bà đã viết cho nhau trong suốt những năm tháng xa cách.

Thật ý nghĩa khi một phần những lá thư đó cùng nhiều kỷ vật thời chiến đã được bà tặng lại cho Bảo tàng Quân sự Việt Nam. Bà là Đỗ Phương Trâm - phu nhân của Đại tá Đỗ Bá Bút - nguyên Phó tham mưu trưởng Binh chủng Pháo binh Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tình yêu lí tưởng

Một chiều thu, tôi đến thăm bà như đã hẹn. Trong ngôi nhà rợp bóng cây thuộc khu tập thể Binh chủng Pháo binh (K83) trên phố Hoa Bằng, bà kể cho tôi nghe về cuộc đời của bà và Đại tá Đỗ Bá Bút, về tình yêu sâu đậm, say mê và đầy lý tưởng của hai ông bà. Giọng kể tuôn trào sôi nổi, liền mạch, như thể những kỷ niệm vừa mới diễn ra hôm qua...

Bà Đỗ Phương Trâm sinh năm 1940 trong gia đình nhà giáo yêu nước ở làng Dục Tú, xã Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội. Chồng bà - Đại tá Đỗ Bá Bút sinh năm 1928, quê ở làng Đan Tảo, xã Tân Minh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Mối lương duyên của ông bà có dấu mốc từ mùa hè năm 1957, khi đó bà mới 17 tuổi, là học sinh tại Khu học xá Nam Ninh - Trung Quốc về nước nghỉ hè. Ông Bút lúc đó là chiến sĩ thi đua Điện Biên Phủ, đang là giáo viên chiến thuật - Trường Sĩ quan pháo binh mới thành lập đóng tại Quần Ngựa, Hà Nội (sau này chuyển về Sơn Tây, Hà Nội).

Chỉ qua vài lần gặp gỡ, hai người đã để lại cho nhau những ấn tượng tốt đẹp về tình bạn, tình đồng chí. Khi bà Trâm về nước và học Trường Trưng Vương, Hà Nội thì tình yêu giữa hai ông bà đã dần dần nảy nở. Hạnh phúc tròn đầy vào năm 1961, cô sinh viên Học viện Nông - Lâm (tiền thân của Đại học Nông nghiệp và Học viện Nông nghiệp Việt Nam ngày nay) Đỗ Phương Trâm và chàng sĩ quan pháo binh Đỗ Bá Bút nên duyên vợ chồng. Cũng từ đây, người vợ trẻ Đỗ Phương Trâm phải trải qua bao khó khăn, gian khổ và những ngày tháng xa cách.

Ngay sau khi cưới cho đến giữa năm 1963, ông Đỗ Bá Bút nhận nhiệm vụ sang Lào làm chuyên gia quân sự tại mặt trận Cánh đồng Chum. Năm 1964, sau khi về nước, ông Bút là một trong những cán bộ pháo binh đầu tiên vào chiến trường miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1969, ông được điều ra Bắc và công tác tại Bộ Tư lệnh Pháo binh. Trong gần mười năm xa cách, những lần gặp gỡ ngắn ngủi của hai ông bà chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Bà Trâm vẫn tiếp tục học tại Học viện Nông - Lâm, sau đó được quyết định về Ty Nông nghiệp Hải Hưng công tác. Xa chồng, bà Trâm luôn làm tròn trách nhiệm của một người vợ, người con với hai bên gia đình nội ngoại, phấn đấu trong công tác và không ngừng tiến bộ. 

Vợ chồng Đại tá Đỗ Bá Bút. Ảnh chụp năm 1964 trước khi ông Bút tham gia “tàu không số”.
Vợ chồng Đại tá Đỗ Bá Bút. Ảnh chụp năm 1964 trước khi ông Bút tham gia “tàu không số”.

Năm 1970, bà được cử đi nghiên cứu sinh tại Cộng hòa dân chủ Đức. Nhưng khi biết mình có thai, bà Trâm đã quyết định ở lại để sinh con. Bà cười hiền hậu: “Ông trời đã không phụ lòng đôi vợ chồng biền biệt xa nhau, 9 năm sau ngày cưới, cô con gái đầu lòng ra đời năm 1970 đã khiến tổ ấm của chúng tôi thực sự được hình thành”.

Những năm trước và sau giải phóng miền Nam, vợ chồng bà Trâm vẫn đôi người đôi ngả. Bà Trâm vừa phải lo việc cơ quan, chăm sóc 3 con nhỏ (hai cô con gái thứ 2 và thứ 3 lần lượt ra đời vào năm 1972, 1977) trong những năm tháng khó khăn. Tuy vậy, bà vẫn đảm nhiệm tốt công việc ở cơ quan, được đồng nghiệp, cấp trên tín nhiệm. Trải qua nhiều chức vụ, năm 1987, bà giữ chức Phó Tổng giám đốc Liên hiệp các xí nghiệp chè Việt Nam. Bà đã được tỉnh Hải Hưng, Bộ Nông nghiệp, Bộ Ngoại thương và Nhà nước trao tặng giấy khen, bằng khen nhiều năm liền.

Bức thư trên tàu không số

Cho đến nay, bà Trâm vẫn giữ gần như nguyên vẹn hàng nghìn bức thư của gia đình. Đó là những dòng thư đầy tình yêu và nỗi nhớ của ông bà gửi cho nhau trong suốt những năm tháng xa cách; thư gửi cho các con khi hai người phải đi công tác xa mấy tháng trời và có cả những dòng chữ non nớt của các con gửi cho bố mẹ. Càng đọc thư lại càng hiểu được tình cảm chân thành, sự quan tâm, động viên ông bà dành cho nhau và cho các con. 

Những trang thư luôn là sợi dây kết nối, giúp ông bà có động lực sống và hành động theo phương châm tự đặt ra: Bình dị trong sinh hoạt - Phong phú về tâm hồn - Sâu rộng về kiến thức - Sắt đá về nghị lực - Giữ vững lý tưởng cao đẹp. Những lá thư luôn đan cài giữa cái tôi và cái ta, giữa tình cảm cá nhân và nỗi niềm chung của toàn dân tộc. Trong số đó, với bà Trâm, bức thư từng lênh đênh trên “tàu không số” luôn là một kỉ niệm đặc biệt.

Năm 1964, ông Bút hoàn thành nhiệm vụ tại Lào và về nước tham gia “Lớp học đặc biệt” do Bộ Tư lệnh Pháo binh tổ chức để chuẩn bị vào miền Nam chiến đấu. Ngày 23/10/1964, ông Bút cùng các đồng chí khác vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh và nghe Bác dặn dò. 

Ông đã lưu lại lời Bác trong tập hồi kí của mình: “Bác và Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho các chú “đi đường đặc biệt” chi viện cho miền Nam đánh Mỹ. Các chú sống để bụng, chết mang theo, không phải báo cáo với Bác. Khi nào cách mạng miền Nam thắng lợi, ra báo cáo với Bác một lượt là được”. Phải mấy tháng sau, ông Bút cùng đồng đội mới hiểu hết ý nghĩa của bốn chữ “đi đường đặc biệt” mà Bác đã nói. 

Tháng 2/1965, khi cuộc chiến chống Mỹ đang ở giai đoạn ác liệt, ông Đỗ Bá Bút lúc này đang là trợ lý tác chiến Bộ Tư lệnh pháo binh nhận nhiệm vụ vào chiến trường miền Nam bằng đường biển. Để không bị địch phát hiện và không lộ tung tích, ông Bút cùng đồng đội được bố trí lên một chiếc tàu đánh cá “không số” chở đầy vũ khí, đạn dược từ Hải Phòng vượt biển vào Cà Mau. Họ đã trải qua một tuần lênh đênh trên biển với tâm thế có thể sẽ phải hy sinh bất cứ lúc nào để bảo đảm người và vũ khí không rơi vào tay địch.

Sau khi vào đến Cà Mau an toàn, ngày 18/2/1965, ông Bút viết lá thư đầu tiên cho người vợ trẻ gửi qua thủy thủ Nhan Hữu Nghiên trên “tàu không số” trở ra Bắc làm nhiệm vụ. Mãi đến cuối năm 1965, khi đã qua giai đoạn phải tuyệt đối giữ bí mật về việc đưa cán bộ từ Bắc vào Nam, bà Trâm mới nhận được thư. Do không thể trực tiếp đưa thư nên thủy thủ Nhan Hữu Nghiên đã gửi thư của ông Bút kèm thư của mình cho bà Trâm qua đường thư bảo đảm.

Bà Đỗ Phương Trâm trên hành trình xuyên Việt năm 2013.
Bà Đỗ Phương Trâm trên hành trình xuyên Việt năm 2013.

Trong lá thư kèm địa chỉ hòm thư 7143HV, thủy thủ Nhan Hữu Nghiên đã dặn bà Trâm phải tuyệt đối giữ bí mật về việc viết thư cho chồng, về người chuyển thư và cách thức chuyển thư. Suốt những năm tháng sau này, bà Trâm luôn mong muốn được gặp người đưa thư đặc biệt mà bà chưa một lần biết mặt.

Một sự kiện quan trọng đã diễn ra, ngày 20/9/2011, bà Trâm tặng Bảo tàng Quân sự Việt Nam hơn 20 hiện vật của Đại tá Đỗ Bá Bút ở chiến trường B2 cùng một số bức thư thời chiến, trong đó có bức thư của thủy thủ Nhan Hữu Nghiên. Bà Trâm hi vọng rằng, khi báo chí đưa tin về sự kiện này, người đưa thư Nhan Hữu Nghiên hoặc những đồng đội của anh trên “tàu không số” năm xưa sẽ biết được và hồi âm lại cho bà. 

Hai tháng sau, từ xã Cam An, huyện Cam Lộ, Quảng Trị, ông Nhan Hữu Nghiên sau khi biết được thông tin của bà Trâm đã gọi điện, viết thư cho bà, hẹn bà một cuộc gặp mặt tại gia đình ông. Bà Trâm ngay lập tức vào Quảng Trị. 

Một cuộc gặp gỡ cảm động đã diễn ra, có biết bao nhiêu điều để nói sau 46 năm giữa hai con người chưa từng gặp mặt, bởi họ có chung câu chuyện về người chiến sĩ Đỗ Bá Bút kiên cường và giàu tình cảm trong những ngày vào Nam. Từ đó đến nay, bà Trâm vẫn giữ liên lạc với ông Nghiên và đã 3 lần vào Quảng Trị thăm gia đình ông để tiếp tục tìm hiểu về cuộc sống của Đại tá Đỗ Bá Bút trong thời gian tham gia “tàu không số”.

Viết tiếp trang sử gia đình

Năm 1989, Đại tá Đỗ Bá Bút đã ra đi vào cõi vĩnh hằng ở tuổi 61 bởi mang trong mình căn bệnh hiểm nghèo do hậu quả chiến tranh. Bà Trâm tâm sự: “Mất anh, tôi như mất tất cả”. Thời gian đầu, lúc nào bà cũng chìm đắm trong những kỉ niệm về người chồng thân yêu. Sự kính trọng và tình yêu dành cho chồng đã giúp bà có thêm nghị lực để tiếp tục công tác và nuôi các con trưởng thành.

Bà Trâm đã lần theo công việc của chồng còn dang dở để viết tiếp những trang hồi kí của gia đình. Chỉ với tấm bản đồ Việt Nam và những địa danh lưu lại trong thư của ông Bút, năm 2013, bà đã đi dọc chiều dài đất nước, đến những nơi mà chồng bà đã đi qua, đã sống và chiến đấu để hiểu hơn về cuộc sống của ông. 

Tập bút kí Trên từng cây số xuyên Việt ra đời là kết quả của chuyến đi mang nặng nỗi niềm của bà: “Cuộc hành trình xuyên Việt dài 23 ngày càng làm tôi thêm yêu Tổ quốc tôi, đồng bào tôi và BST của tôi” (BST - Bút Sơn Tây, cách gọi thân thiết của bà dành cho chồng).

Trong phòng truyền thống của gia đình, bà Trâm đã lưu giữ và sắp xếp lớp lang tất cả ảnh chụp, hồ sơ giấy tờ, bút tích, bằng khen, huân huy chương của ông Bút. Bà cho tôi xem tấm Huân chương Vạn Tượng hạng Nhất “ba đầu voi” do nhà vua Lào trao tặng ông Đỗ Bá Bút trong thời gian ông chiến đấu và làm chuyên gia quân sự tại Lào. Giọng kể dâng đầy niềm tự hào, tình yêu thương và lòng kính trọng của bà dành cho Đại tá Đỗ Bá Bút.

Cho đến nay bà Trâm đã hoàn thành hơn mười tập hồi ký, kí sự gia đình dày dặn và đầy ắp sự kiện với mong muốn lưu lại cho con cháu những trang vàng của lịch sử đất nước, của truyền thống gia đình. Đặc biệt hơn, bà muốn lưu lại dấu ấn của Đại tá Đỗ Bá Bút - người chồng, người thầy, người đồng chí của bà, đúng như đôi câu đối của Luật sư Phan Anh dành cho ông Bút ngày ông mất: “Rong Bắc ruổi Nam cờ đỏ tung hoành trăm trận đánh/ Thương con quý vợ tình nhà ấp ủ một lòng son”.

Huyền Châm

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?