Những cánh bướm đa tình

Vẻ đẹp của con người có thể nói là kiệt tác của tạo hóa, là nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca nghệ thuật của nhân loại từ bao đời. Nhưng bên cạnh vẻ đẹp của con người cũng còn vô vàn những vẻ đẹp khác của thế giới tự nhiên, từ hùng vĩ lớn lao tới tế vi nhỏ bé.

Và như lời của một triết gia đã nói, Thượng đế dù sáng tạo ra vật lớn hay vật nhỏ đều dùng toàn lực. Nếu như sư tử có vẻ đẹp dũng mãnh dữ dội thì những loài côn trùng lại có vẻ đẹp của sự nhỏ bé mong manh. Một trong những vẻ đẹp của sự bé nhỏ mà cực kỳ tinh tế ấy là những cánh bướm, đã đi vào vô số các tác phẩm thi ca nghệ thuật, thậm chí cùng mang những ý nghĩa biểu tượng tương đồng trong tâm thức nhiều quốc gia, dân tộc.

1.Theo khoa học, bướm được xếp vào loài côn trùng thuộc bộ Cánh vẩy (Lepidoptera), bao gồm hai nhóm lớn là bướm ngày và bướm đêm (ngài). Nếu như bướm ngày chỉ có từ 15.000 đến 20.000 loại thì bướm đêm có số lượng phong phú gấp tới 10 lần bướm ngày.

Tuy nhiên, khi đi vào thi ca của người Việt, chúng tôi nhận thấy chỉ có bốn định danh cơ bản: “bướm”, “bươm bướm” (nói chung), “bướm trắng” và “bướm vàng”. Trong đời sống thường ngày của người Việt, dân gian còn có thêm định danh “bướm ma” để chỉ những con bướm có màu đen. Theo văn hóa tâm linh của người Việt, cánh bướm thường được coi là hiện thân của linh hồn những người đã khuất, trong những khoảnh khắc nào đó bất chợt trở về trần gian bên cạnh những người thân của mình. Trong thi ca người Việt, cánh bướm hiện lên trước tiên như một vẻ đẹp của cuộc sống.

Bùi Giáng từng thốt lên: “Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi/ Trần gian ơi cánh bướm cánh chuồn chuồn/ Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại/ Con vi trùng sâu bọ cũng yêu luôn” (Phụng hiến). Nhiều nhà thơ trong thời kỳ Thơ mới cũng ngợi ca cánh bướm trong thơ: “Mải vui tìm cành hoa trên cánh bướm/ Ai đưa ta lạc đến nước non này” (Duyên kỳ ngộ - Hàn Mặc Tử), “Của ong bướm này đây tuần tháng mật (...) Ta muốn say cánh bướm với tình yêu” (Vội vàng – Xuân Diệu).

Cánh bướm có khi nằm trong một liên tưởng so sánh: “Nắng đùa mái tóc/ Chồi biếc trên cây/ Lá vàng bay bay/ Như ngàn cánh bướm” (Chồi biếc – Xuân Quỳnh). Vẻ đẹp của cánh bướm đi vào cả những lời dân ca quan họ Bắc Ninh: “Bướm lượn là bướm ới a nó bay/ Bướm dạo là bướm ới a nó bay” (Hoa thơm bướm lượn).

Cánh bướm đi vào thi ca trong nhiều trường hợp còn gắn với những kỷ niệm tuổi thơ. “Hái hoa bắt bướm” được coi như một thành ngữ để chỉ một tuổi thơ vô tư trong sáng, thỏa sức chơi đùa. Trong bài thơ nổi tiếng “Quê hương” của Giang Nam, cánh bướm xuất hiện cả ở phần đầu và phần kết của tác phẩm: “Những ngày trốn học đuổi bướm cầu ao (...) Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm”.

Trong bài hát “Chuyến đò quê hương”, nhạc sĩ Vy Nhật Tảo cũng hồi tưởng lại những cánh bướm của một thời hoa niên: “Anh còn nhớ mái đình xưa/ Ngôi trường xưa ê a giọng hát/ Đuổi ve bắt bướm những trưa hè”.

Trong bộ “Nam Hoa kinh” của Trang Tử, câu chuyện Trang Chu hóa bướm trở thành một điển tích văn học nổi tiếng, hàm chỉ một tinh thần triết học cực cao về “Tiêu dao du” và “Tề vật luận”: “Có lần Trang Chu nằm mộng thấy mình hóa bướm vui vẻ bay lượn, mà không biết mình là Chu nữa, rồi bỗng tỉnh dậy, ngạc nhiên thấy mình là Chu. Không biết phải mình là Chu nằm mộng thấy hóa bướm hay là bướm mộng thấy hóa Chu nữa”. Về sau, Nguyễn Du cũng nhắc lại tích này trong đoạn tả tiếng đàn của Thúy Kiều: “Khúc đâu đầm ấm dương hòa/ Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh”.

2. Trong thi ca hiện đại Việt Nam, người đưa bướm vào thơ một cách dày đặc và cấp cho bướm nhiều giá trị biểu tượng mới mẻ chính là Nguyễn Bính. Trong toàn bộ 272 bài sáng tác trước 1945, có tất cả 75 lần tín hiệu “bướm” xuất hiện. Nghĩa là cứ đọc trung bình 3,6 bài thơ của thi sĩ chân quê, ta lại bắt gặp một cánh bướm. Nhà thơ dùng 3 cách khác nhau để gọi tên cho bướm là: “bướm”, “bươm bướm”, “điệp”. Về định danh theo màu sắc có hai loại bướm cơ bản là “bướm vàng” (10 lần xuất hiện) và “bướm trắng” (cũng 10 lần xuất hiện).

Về định danh theo tính chất, có các loại bướm như: “bướm xưa, bướm yêu, bướm lười, bướm xuân xanh, bướm già, bướm láng giềng, bướm giang hồ, bướm tiên, bướm non, bướm dại”. Tiếp theo là những lần bướm xuất hiện sau động từ với tư cách là đối thể chịu tác động hoặc cùng hoạt động, bao gồm: “nuôi bướm, bắt bướm, nhập vào bướm, yêu dấu bướm, rước bướm, đón rước bướm, rắc bướm lên hoa, vườn trần theo bướm, thấy bướm, mơ đuổi bướm, chim nhắc bướm, bùa mê bướm”. Bướm cũng một lần xuất hiện sau động từ tồn tại: “Có hai chị bướm đi chơi chợ” (Bướm đi chợ).

Trong những kết hợp danh từ + bướm, chúng tôi thấy có sự góp mặt của “giấc bướm, lời bướm và nước bướm, xứ bướm: “Giấc bướm ngại sang đò bến lạnh”(Mùa đông nhớ cố nhân), “Gió chuyền lời bướm xuống nhân gian” (Bao nhiêu đau khổ của trần gian, trời đã dành riêng để tặng nàng), “Em ạ ngày xưa vua nước bướm/ Kén nhân tài mở điệp lang khoa” (Truyện cổ tích), “Bao nhiêu xứ bướm qua lầu/ Nàng toan gieo quả kim cầu cho ai?” (Lạy giời cấm cửa rừng mai).

Cuối cùng là những trường hợp bướm xuất hiện với tư cách của chủ thể hành động. Cánh bướm ở đây thêm một lần nữa được hiện lên với các sắc màu vô cùng sinh động, thể hiện sự nhân cách hoá cao độ của nhà thơ trong việc tri nhận bướm với những hành động và cảm xúc của con người: “lũ bướm tưởng hoa, bướm lại sang, bướm khép cánh, bướm hãy vào đây, bướm quả quyết yêu hoa, bướm vẽ vòng, bướm hẹn về, bướm nói điêu, bướm lại ong qua, bướm cánh nghiêng nghiêng, bướm vờn hoa, bướm rũ trăm năm, bướm tha phương, bướm cưới hoa hồng, bướm có bằng lòng, bướm dậy thì, bướm đi tu, bướm chê hoa vàng, bướm chẳng chung tình, bướm dạy nàng thêu, bướm lại đưa tin, bướm ra công vẽ bùa, bướm ủ hoa…”

Một trong những độc đáo của Nguyễn Bính là dùng bướm để biểu thị cho người đàn ông, mà trước hết là cho chính mình: “Bao giờ bến mới gặp đò/ Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau” (Tương tư), “Thuở trước loài hoa chửa biết cười/ Vô tình con bướm trắng sang chơi/ Khác nào tôi đã sang chơi đấy/ Rước bướm dừng chân. Hoa hé môi” (Hương cố nhân), “Ai đem rắc bướm lên hoa/ Rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng” (Rắc bướm lên hoa).

Nhìn chung, cánh bướm trong thơ Nguyễn Bính luôn được đặt trong mối quan hệ với tình yêu, trở thành biểu tượng của tình yêu và thể hiện một nhân sinh quan về tình yêu. Trong hầu hết các lần xuất hiện, cánh bướm  trong các thi phẩm của Nguyễn Bính đều mang tính bi kịch. Nếu không phải là những thân phận tàn tạ (Bướm tiên khi đã lọt vào vườn hoang; Hoa tàn con bướm cánh nghiêng nghiêng) thì cũng là những tình yêu dở dang, thiếu vắng, không trọn vẹn.

Trong một hồi tưởng về tình yêu thuở học trò, ta có một “chuyện bướm xưa” (bài Trường huyện), trong nỗi nhớ quắt quay, ta có hành động “nuôi bướm làm con để nhớ người” (bài Nuôi bướm), trong giấc mơ về một tình yêu, thi nhân mơ thấy “hai con bướm, khép cánh tình chung ở giữa trời”, trong bi kịch của một chuyện tình, nhà thơ lại nguyện cầu: “Hồn trinh còn ở trần gian/ Nhập vào bướm trắng mà sang bên này”.

Ngay chính bản thân mình, Nguyễn Bính cũng tự cho là một “bướm giang hồ” (bài Tương tư). Và những cánh bướm cũng là sự gian dối (bướm nói điêu), sự đổi thay (Vườn trần theo bướm phấn hương bay). Tóm lại, trong thơ Nguyễn Bính, cánh bướm đồng nghĩa với sự mong manh, không vĩnh viễn.

3. Trong âm nhạc Việt Nam, cánh bướm xuất hiện trong những ca khúc nổi tiếng của Trần Tiến và Đoàn Chuẩn – Từ Linh. Nếu như ở bài “Sao em nỡ vội lấy chồng”, cánh bướm gắn với sự tiếc nuối của một thời thiếu nữ (Bướm vàng đã đậu trái mù u rồi, lấy chồng sớm làm gì...) thì ở “Gửi gió cho mây ngàn bay”, ta bắt gặp trở lại sự song hành tuyệt đẹp của hoa-bướm trong một ngợi ca về sự quyến rũ của mùa thu: “Gửi gió cho mây ngàn bay/ Gửi bướm đa tình về hoa/ Gửi thêm ánh trăng màu xanh, lá thư về đây với thu trần gian...”.

Sự quyến rũ của “hoa bướm” ấy, sẽ còn mãi trong những tụng ca về người phụ nữ, về tình yêu, về cõi người và những vẻ đẹp bất tận nơi trần thế: “Tôi cùng em mơ những chốn nào/ Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao/ Sánh vai một mái lầu phong nguyệt/ Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao” (Mộng dưới hoa - Nhạc: Phạm Đình Chương, Lời: thơ Đinh Hùng).

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.