Nhà thơ Vương Cường -  “Làm mới mình là tạo ra sự khác biệt”

Nhà thơ Vương Cường là cây bút xứ Nghệ khá sắc sảo, luôn đổi mới trong từng tác phẩm và nhận rõ con đường thơ mà mình đi là gian nan, vất vả. Các tập thơ "Bài hát đi tìm một người", "Đám mây hình thiếu phụ", "Canh chừng lãng quên", "Thơ chọn" đã định hình một phong cách thơ độc đáo, mới mẻ, triết lí mà rất tinh tế, giàu thi ảnh. Nhà thơ Vương Cường luôn ý thức khi cầm bút, muốn làm mới thì trước hết phải tạo ra sự khác biệt.

- Sinh ra ở làng quê trong một dòng họ truyền thống hiếu học và thừa hưởng dòng máu văn chương, nhà thơ Vương Cường có thể chia sẻ về con đường thơ của mình? Nhà thơ Thạch Quỳ ảnh hưởng đến ông như thế nào?

+ Tôi cũng như nhiều người được sinh ra ở một làng quê, từ một dòng họ, một gia đình. Nói về truyền thống hiếu học thì quê tôi, họ tôi chưa hẳn đã nhiều bằng làng quê khác. Tình yêu quê tự hào là người con xứ Nghệ chắc chắn tôi cũng như nhiều người. Tôi giữ mãi cảm xúc khi lần đầu xa quê lúc trở về nhìn thấy ngọn tre làng, bước chân tôi như ríu vào nhau. Thường đứng ngẩn ngơ trước cánh đồng làng hay âm thầm, lặng lẽ ngắm nhìn từng mộ chí ở nghĩa địa làng. Phần lớn người làng tôi, họ tôi đều đặc biệt quan tâm, tôn trọng việc học hành. Quê tôi, xứ Nghệ học để nên người tử tế nhưng không thực dụng. Điều này với tôi rất quan trọng và ảnh hưởng tới tính cách sau này của tôi. Đất xứ Nghệ núi cao, sông sâu, người xứ Nghệ trọng nghĩa khinh tài, thật may mắn cho người cầm bút được sinh ra ở đó.

img-6819.jpg -0
Nhà thơ Vương Cường.

Ở làng Đông Bích, nhất là người họ Vương có nhiều người, nhiều đời yêu và làm thơ. Tôi bắt đầu lớn đã nghe các cha, chú, các anh đọc thơ, nói chuyện thơ hàng ngày. Ai nghĩ được gì thì lập tức tìm người để đọc, để nói. Tôi nhớ rất nhiều câu thơ do nghe lỏm như thế. Ở tất cả các nhà thờ từ nhà thờ Đại tôn họ Vương trở xuống đều có câu đối. Nhiều câu đối nhắc nhở hay đề cao đèn sách, văn chương, chữ nghĩa, giữ gìn nếp nhà.

Tôi lớn lên trong khung cảnh đó. Từ làng có nhiều con đường ngoằn ngoèo chạy ra phố huyện và các thành phố khác. Lớn dần tôi cứ đi trên những con đường đó, nối với thế giới bên ngoài. Dĩ nhiên từ bên trong đã có dòng máu thơ nên môi trường ảnh hưởng lớn. Người hun đúc sự say mê thơ với các nhà thơ họ Vương là chú Vương Đình Trâm. Chú đọc phân tích thơ từ cổ chí kim. Chú yêu Nguyễn Du, Nguyễn Bính đến kỳ lạ. Chú chuyền ngọn lửa ấy sang cho tất cả mọi người. Anh tôi - nhà thơ Thạch Quỳ thuở tôi còn bé đang học phổ thông thường nhờ tôi chép thơ gửi Báo Văn Nghệ. Những câu thơ của anh ám ảnh tôi khi còn nhỏ. Những Tết chú Vương Trọng, anh Thạch Quỳ về họ tôi thường tổ chức những đêm đọc thơ. Người đọc và người nghe chủ yếu là anh em trong họ và một số người làng. Những đêm như vậy cũng đi theo suốt cuộc đời.

Tôi làm thơ từ năm 13 tuổi. Làm thơ theo cảm tính, bản năng đến cả chục năm trời. Cảm tính, bản năng vì thấy có thơ lục bát hay bảy chữ là mình cứ thế viết theo. Say mê viết của người chưa biết gì về những đòi hỏi cao siêu của thơ. Tôi có 4 tập thơ đã in. Khi anh Nguyễn Trọng Tạo còn sống thường nói với tôi, tập thơ đầu tay "Bài hát đi tìm một người" (1997) chỉ là cái đuôi theo sau các nhà thơ chống Mỹ. Tập "Đám mây hình thiếu phụ" (2010) đã bắt đầu tách ra khỏi đám đông nhưng chưa thật khác biệt. Đến tập "Canh chừng lãng quên" và "Thơ chọn" thì đã khác. Tính khác biệt được thể hiện rõ nét hơn nhiều. Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu thường rất khen những bài thơ viết ở thời hậu chiến như "Cõng bạn đi chơi", "Thăm đồng đội cũ"...

Con đường thơ tôi vừa đi, vừa viết vừa tự nhận thức để tìm ra mình. Đó cũng là con đường biến chuyển của thi pháp, con đường chuyển thơ từ ý thức sang thơ vô thức.

- Một trong những yêu cầu đặc biệt của người làm thơ chính là luôn làm mới mình, với nhà thơ, ông đã làm thế nào để "tự đổi mới" mình?

+ Tôi biết từ rất sớm lối đi của thơ chỉ dành cho một người. Muốn trở thành nhà thơ, thơ phải khác biệt, không giống ai dù đó là nhà thơ thiên tài Nguyễn Du. Nhưng phải mất cả chục năm mới thay đổi được mình bằng sự nhận thức lý luận. Tôi đã từng loay hoay đổi mới thơ nhưng thật ra là cải tiến. Ví dụ tôi tin thơ lục bát và để làm mới nó tôi thường viết phá cách, phá thể. Nhưng rồi tôi vẫn nhận ra dù thay đổi hay cải tiến thế nào thì lục bát vẫn là lục bát. Khó nói nếu viết lục bát thường được người đọc và khen hay. Đây là cái khó nhất của người viết khi về lý thuyết cho thấy phải vượt qua. Khi thơ lục bát đã trở về nơi sinh ra nó, dân gian, với tư cách nhà thơ tôi phải nghĩ tới sáng tạo.

Tôi nhận ra rằng dù cải tiến thế nào nếu thi pháp không thay đổi thì cũng bằng không. Từ đó tôi suy nghĩ và thay đổi thi pháp. Xa lánh hoàn toàn những thơ mang tính công thức dễ đến ngàn năm ngự trị. Nó ra đời trong một xã hội gần như đứng yên và người dân mù chữ. Thời đại đã khác. Cha ông ta đã vượt qua thơ Đường - loại thơ công thức khắt khe nhất để có thơ mới theo hướng hiện đại. Phần mình phải vượt qua lục bát để tiến tới hiện đại hoàn toàn phù hợp với xu thế mới của lịch sử. Bài thơ lục bát cuối cùng tôi viết năm 1989.

Sau thi pháp tôi chú ý ngôn ngữ, Tôi nhận ra ngôn ngữ thơ nhúng chìm trong cảm xúc, không chỉ tạo ra sự ám ảnh cho người đọc mà nó còn tạo ra ngôn ngữ mới. Sự mò mẫm của tôi được nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo khuyến khích, tôi càng tin mình đúng. Khi tôi viết bài "Hy vọng", anh Tạo vào khen, Vương Cường đã đổi giọng. Khi tôi viết câu thơ "Anh nghẹn bát cơm nếp nương thơm nỗi niềm khói xới" anh Tạo khen: "có chữ mới: khói xới". Cứ thế nhờ làm mới tạo ra sự khác biệt hơn nhờ thay đổi từ gốc, thi pháp, thơ dày hơn tạo sự ám ảnh hơn nhờ nhận thức thay đổi về ngôn ngữ. Thơ rất cần cái "mùi" như thế để bạn đọc nhận ra mình.

- Trong tập thơ "Bài hát đi tìm một người" có những bài thơ lục bát. Dư luận bạn đọc nhiều người khen hay vì sự chắt lọc, tinh tế, triết lý nhưng cũng bay bổng giàu thi ảnh. Tứ thơ lạ, độc đáo, ấn tượng về đề tài tình yêu. Nhưng ở ba tập thơ tiếp theo "Đám mây hình thiếu phụ"; "Canh chừng lãng quên"; "Thơ chọn" in chung với nhà thơ Đoàn Xuân Hòa, bạn đọc không còn thấy ông viết một bài lục bát nào nữa. Ông lý giải điều này như thế nào?

+ Đây là câu hỏi rất hay, rất thú vị. Bạn biết rồi tôi không chỉ là nhà thơ mà tôi còn là người nghiên cứu lý luận. Đã là người nghiên cứu tôi phải phát hiện và luận chứng cái mới, thậm chí cái mới có tính mở đường. Việc nghiên cứu này rất công phu, mất nhiều năm, ở đây tôi chỉ nói vài ý chính thôi.

Như đã nói mãi đến năm 1989 tôi vẫn còn viết thơ lục bát. Nghĩa là tôi chưa ra khỏi loại thơ vần điệu thịnh hành thời kháng chiến trở về trước. Nếu nói thẳng thắn sau Thơ mới thơ Việt Nam không có những bước tiến dài về thi pháp riêng biệt. Lịch sử sau Thơ Mới nhân dân ta tập trung vào cuộc chiến sinh tử giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Từ một nước nô lệ hơn 90% mù chữ, nghèo nàn, lạc hậu đương đầu với những đế quốc giàu mạnh nhất thế giới. Văn nghệ nói chung thơ nói riêng tham gia cuộc chiến theo cách của mình. Động viên, cố vũ, tuyên truyền toàn dân đoàn kết đánh giặc. Trong hoàn cảnh đó "thơ vần điệu trong luật" nhất là thơ lục bát như một vũ khí không thể thay thế. Môi trường ấy thơ lục bát phát triển sum suê, thậm chí cả vè. Chúng ta không có cơ hội hay phút nghỉ dừng chân để các nhà nghiên cứu, các nhà thơ nghĩ về thi pháp. Nhà thơ Nguyễn Đình Thi năm 1947 ở chiến khu Việt Bắc đã đưa ra quan niệm "thơ không vần" nhưng thực tế cuộc kháng chiến không chấp nhận. Ý tưởng đó chết ngay khi chưa kịp ra đời.

Thơ của anh hay của tôi dứt khoát phải khác nhau. Muốn thế từ thi pháp phải khác nhau. Từng bài thơ có thi pháp riêng. Nếu anh và tôi cùng viết thơ lục bát thì chúng ta đã giống nhau một phần rồi. Phần đó chính là phần công thức chung của bài thơ. Chúng ta cùng làm thơ lục bát khác gì đang phổ lời cho bản nhạc dân gian. Tôi chưa nói sự cứng nhắc, thiếu uyển chuyển mờ ảo như thơ đã chống lại mọi cố gắng diễn đạt của nhà thơ. Tôi cũng như các nhà thơ khác, nhận ra thơ lục bát dễ viết mà khó hay. Nghĩa là chưa nhận thức bằng lý luận khoa học.

Với thi pháp này, nhất thiết nhà thơ phải sống và trải nghiệm nhiều hơn, lưu lại những thi ảnh trong hồn và thơ có thể chuyển tải mọi nội dung dù phong phú đến đâu… Thời của kinh tế thị trường toàn cầu hóa làm cơ sở và cho phép các nhà thơ chuyển hóa… Như vậy bạn có thể hiểu vì sao từ năm 1989 đến nay tôi không viết thơ lục bát...

- Xin trân trọng cảm ơn nhà thơ Vương Cường về cuộc trò chuyện.

Vân Khánh (thực hiện)

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...