Nguyễn Bỉnh Khiêm: Thơ và sấm ký!

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi 1491 (mất 1585), tên Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, tại Trung Am, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Cha là Văn Định tước Nghiêm Quận công, học vấn cao, đức độ. Mẹ là Từ Thục phu nhân, con gái Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan, học rộng, thông minh. Thiếu thời Nguyễn Bỉnh Khiêm học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng.

Xứ Nghệ “địa linh nhân kiệt” đã mấy trăm năm lưu truyền câu Sấm, đến đầu thế kỷ XX thì trở thành sự thật: “Đụn Sơn phân giải/ Bò Đái thất thanh/ Thủy đáo Lam thành/ Nam Đàn sinh thánh”. Nghĩa là “Núi Đụn phân đôi/ (khe) Bò Đái mất tiếng/ Nước (sông Lam) khoét vào núi Lam Thành/ (đất) Nam Đàn sinh thánh”. Các nhà Nho uyên thâm đều cho rằng lời Sấm ấy là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nhiều người hỏi cụ Phan Bội Châu: “Thánh” ở đây có phải cụ không? Cụ trả lời dứt khoát: Là Nguyễn Ái Quốc. Cả lời Sấm và câu trả lời của cụ Phan đã được văn bản hoá in ở nhiều sách.

Cụ Trạng Trình còn dự báo cả Cách mạng Tháng 8 năm 1945, qua câu thơ: “Đầu Thu gà gáy xôn xao/ Trăng xưa sáng tỏ soi vào Thăng Long”. Có thể hiểu “đầu Thu” là tháng Tám dương lịch, “gà” là năm Ất Dậu (1945). Theo lối chiết tự thì “trăng xưa” nghĩa Nôm hiểu sang Hán tự là “cổ nguyệt” (cổ = xưa, nguyệt = trăng), hai chữ Hán này ghép lại thì thành chữ “hồ”, chỉ Bác Hồ. Câu sau nói về sự kiện Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ở Thăng Long (Hà Nội).

Cụ tiên đoán chắc chắn rằng: “Hồng Lam ngũ bách nghinh thiên hạ/ Hưng tổ diên trường ức vạn xuân” (Non nước Hồng Lam này sau ta 500 năm/ Sẽ là những mùa xuân hưng thịnh vĩnh viễn). Lịch sử đã khẳng định những tiên đoán của cụ hầu như đều đúng!

Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Tượng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

Ngay người Trung Hoa - đất nước của sấm ký, điềm, triệu cũng rất kính trọng và coi cụ là “An Nam lý số hữu Trình tuyền”(Về lý số An Nam có cụ Trạng Trình).

Nguyễn Bỉnh Khiêm sinh năm Tân Hợi 1491 (mất 1585), tên Văn Đạt, tự Hanh Phủ, hiệu Bạch Vân cư sĩ, tại Trung Am, nay là xã Lý Học, huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Cha là Văn Định tước Nghiêm Quận công, học vấn cao, đức độ. Mẹ là Từ Thục phu nhân, con gái Thượng thư bộ Hộ Nhữ Văn Lan, học rộng, thông minh. Thiếu thời Nguyễn Bỉnh Khiêm học Bảng nhãn Lương Đắc Bằng.

Năm 44 tuổi mới đỗ đạt. Làm quan tới chức Tả thị lang, Đông các Đại học sĩ. Trước tác văn thơ của cụ nay được in thành Tổng tập "Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm - Tổng tập" (2014), NXB Văn học, 1647 trang, do Lê Hữu Nhiệm - Phạm Văn Ánh phiên âm, dịch, chú giải; "Bạch Vân am thi tập"; Lê Hiệu phiên Nôm. Cụ nổi tiếng ở cả thơ và sấm ký.

Khái niệm “tiên tri” được hiểu là sự nhận thức đi trước thời đại, nhà tiên tri được hiểu là người biết được, tiên đoán được những sự kiện lớn sẽ xảy ra trong tương lai. Thế giới ghi nhận có rất ít người có khả năng này, như Nostradamus, Vanga, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Lời tiên tri là một mã văn hoá đặc biệt, nhiều khi bí hiểm nên để giải mã được người đọc phải vận dụng hiểu biết rộng rãi về tác giả, về văn hoá, chính trị, lịch sử, thời đại…

Vì lẽ này mà dự đoán, tiên tri trở thành một nét văn hoá tâm linh luôn hấp dẫn, mời gọi. Trong văn học được nâng lên thành thi pháp kỳ ảo, huyền thoại. Ví dụ ở “Tam quốc diễn nghĩa” thì nhân vật Khổng Minh là nhà tiên tri kỳ tài. Các tiểu thuyết cổ điển truyền kỳ nước ta cũng có nhiều chi tiết tiên tri. “Truyện Kiều” cũng sử dụng thủ pháp này…

Nhà tiên tri, tiếng Anh là prophet, gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là người phát ngôn của các vị thần. Ngay từ nguyên cũng cho thấy ở phương Tây, khái niệm tiên tri mang nghĩa truyền tin, rao giảng hơn là phán đoán, dự báo như ở phương Đông - là xứ sở có cả một nền triết học “Kinh Dịch” thần bí. Nhà tiên tri cổ điển phương Đông dứt khoát phải thật giỏi Kinh Dịch, như Gia Cát Lượng (trong tiểu thuyết), Nguyễn Bỉnh Khiêm…

Sau này, Phan Bội Châu cũng rất giỏi Kinh Dịch. Nói thế cũng là một cách lý giải nhiều nhà tiên tri phương Đông do tự trang bị cho mình vốn kiến thức thật sự phong phú, sâu sắc (Kinh Dịch được coi là tinh hoa của triết học cổ, là bộ bách khoa toàn thư) kết hợp với sự nhạy cảm về thời thế chính trị, một tầm nhìn thông kim bác cổ mà có thể đưa ra những nhận định đi trước thời gian. Tác phẩm của họ, không chỉ trong sấm ký, mà trong văn thơ cũng giàu có chất triết lý về những quy luật của lịch sử, thời đại, về con người. Xin chứng minh trong thơ Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm để thấy sự thống nhất giữa thơ và sấm ký của ông.

Nhà thơ sống dưới thời nhà Lê suy thoái, vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, ngai vàng là chỗ để tranh giành, tàn hại. Các vua như Uy Mục, Tương Dực nổi tiếng xa hoa, dốt nát, dâm dật đến nỗi dân gian gọi bằng những cái tên khinh bỉ là “vua quỷ”, “vua lợn”. Nhà Mạc tiếm ngôi cũng không làm sáng thêm bức tranh lịch sử ảm đạm. Là người có chí, mà cụ ngầm nói muốn như con rùa “ngóc đầu vá trời” nhưng bất lực.

Đời cụ hành ít tàng nhiều, xuất ít xử nhiều, đã rất băn khoăn: “Thuở nay xuất xử đâu là phải/ Ở ắt nên, về cũng ắt nên”. Sự băn khoăn ấy lý giải cụ về hưu sớm rồi lại tham chính, tham chính lại về hưu, cả thảy đến ba lần. Nguyễn Bỉnh Khiêm nổi tiếng với triết lý “nhàn”, nhưng không phải là nhàn kiểu chơi bời ở ẩn, mà là “nhàn” quan, không làm quan để đọc sách, làm thơ.

Trong gần ngàn bài thơ của cụ có rất nhiều chữ tĩnh, tĩnh để suy ngẫm, tĩnh là một phép dưỡng sinh (phải chăng nhờ thế mà cụ thọ gần một thế kỷ). Cơ bản nhất, tĩnh để hiểu lẽ trời: “Càn khôn tĩnh lý suy” (Lẽ trời đất hiểu được từ trong yên lặng)… Cụ là nhà thơ triết lý, mà triết lý nhiều nhất là về chữ “tĩnh”. 

Cũng đúng với quy luật thông thường, nhờ có tĩnh để suy ngẫm sâu sắc hơn, nên thơ cụ cũng rất nhiều chữ tri. Tri là sự tính toán để biết thời thế: “Tính toán đúng thì thừa thắng lợi/ Biết cơ ứng biến được vẹn toàn”. Có tri mới biết được bản chất, nguồn cội vấn đề: “Chí tĩnh tri chân lạc” (Thật yên lặng, nhìn rõ nguồn vui đích thực). Con người ta khi đạt đến độ hiểu biết nào đó (giác ngộ) mới đủ an nhiên tự tại mà nhận ra quy luật: “Đất chuyển trời xoay tự nhiên/ Cơ tâm đều bỏ hết/ Được mất cũng vui lòng”…

Có tri (vốn hiểu biết) mà người ta có trí (nhận thức, nhận biết). Cụ đưa ra một nhận thức về chữ trí: “Vị thức tiên cơ yên đắc trí” (Chưa biết trước mọi việc sao có thể gọi là trí). Như vậy chữ trí gắn liền với tri mới có thể tiên tri. Đây cũng là quan niệm của Hồ Chí Minh sau này khi gọi văn nghệ sỹ là các bậc tiên tri, tiên giác!

Muốn có tri, không cách nào khác phải đọc nhiều sách để tích vốn: “Thi thư thiên quyển trợ nghiên tinh” (Ngàn quyển thi thư giúp cho sự nghiền ngẫm đạt đến tinh vi). Còn ngược lại, lười đọc thì sẽ sa vào sự hoang dại, hoang hóa: “Thánh học trăn vu cửu thất chân” (Thánh học hoang vu, sẽ mất sự chân xác). Biết tĩnh, có tri, có trí nên trọng hòa, do vậy chữ hoà cũng xuất hiện trong thơ cụ với tần số rất cao.

Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.
Đền thờ Trạng Trình Nguyễn Bình Khiêm ở Vĩnh Bảo, Hải Phòng.

Một xã hội lấy hòa làm trọng, lấy đạo đức làm gốc để giáo hoá con người, đó là xã hội hạnh phúc: “Ôi, hòa là chủ của âm nhạc, thiện là gốc của giáo hóa. Khánh đá một khi treo lên, tiếng vang khôn cùng”. “Khánh đá” trở thành nghĩa biểu trưng cho nghệ thuật. Nghệ thuật phải như khánh đá kia, phải vang lên âm thanh chức năng báo hiệu tỉnh thức con người. Rõ ràng quan niệm của Trạng Trình thật sự hiện đại, mới mẻ!

"Tĩnh, Tri, Trí, Hòa" như bốn đỉnh tháp tư tưởng sừng sững trong thế giới thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm. Hình như nhà thơ muốn nói với hôm nay: xây tòa nhà giáo dục cho xã hội cũng như xây ngôi nhà nhân cách cho mỗi người thì phải lấy bốn chữ này làm nền móng! Nếu thiếu Tĩnh, con người sẽ không có bình tĩnh, điềm đạm mà dễ nóng giận; thiếu Tri sẽ dễ vô văn hóa; thiếu Trí sẽ không nhận ra đâu là phải trái; thiếu Hòa sẽ dễ gây ra xung đột… Mà thực tế hôm nay con người ta hình như đang thiếu cả bốn điều cơ bản ấy!!!

 Một vĩ nhân có sở học, kiến văn rộng lớn, sâu sắc, có một quan niệm nhân sinh tiến bộ mang đậm tinh thần triết học như thế cho thấy Trạng Trình là nhà tiên tri cũng dễ hiểu!

 Hôm nay, biển Đông của chúng ta đang có kẻ dòm ngó, đã được cụ Trạng Trình tiên đoán trước 500 năm trong bài thơ “Cự Ngao Đới Sơn” (Con rùa lớn đội núi). Cụ đã khẳng định chủ quyền và như tiếp thêm sức mạnh chính nghĩa cho con cháu: “Vạn lý Đông minh quy bả ác/ Ức niên Nam cực điện long bình/ Ngã kim dục triển phù nguy lực/ Vãn khước quan hà cựu đế thành” (Biển Đông vạn dặm dang tay giữ/ Đất Việt muôn năm vững vàng hoà bình thịnh trị/ Nay ta muốn thi thố sức phù nguy/ Vãn hồi lại núi sông bờ cõi và kinh thành cũ của nhà vua).

Niềm tin, khát vọng của cụ cũng là niềm tin, khát vọng của mọi người Việt Nam yêu nước!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).