Làm vợ nhà thơ, nghèo khó một thuở

Tôi đã nhiều lần nghe câu hỏi: "Làm vợ nhà văn, nhà thơ dễ hay khó, sung sướng hay khổ sở?". Cũng nhiều lần được nghe lời đáp của bà vợ các văn nhân, tôi cũng tự hỏi và tự trả lời về câu chuyện này. Khó hay dễ, sướng hay khổ thì "mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh" tùy từng gia đình, nhưng có một điểm chung nhất: những người vợ nhà văn nhà thơ đều có sức chịu đựng bền bỉ, dẻo dai, mãnh liệt.

1. Văn nhân thì bao giờ cảm xúc cũng dào dạt, mỗi khi bắt được ý tưởng truyện ngắn hay vồ được một tứ thơ là nung nấu, sục sôi sáng tạo. Ông nhà văn thì nghiền ngẫm tình huống, chi tiết nhân vật, cốt truyện, ông thi sĩ thì đau đáu chọn câu lựa từ, chọn ý, chọn biểu tượng, hình ảnh. Lao động sáng tạo dẫn dắt tác giả đến mức ăn không ngon, ngủ không yên, có lúc người cứ ngơ ngơ ngẩn ngẩn.

anh 2.jpg -0
Vợ chồng nhà văn Nguyễn Quang Hà nhận hoa chúc mừng của bạn văn trong buổi ra mắt tập thơ mới.

Làm vợ văn nhân cũng mệt cũng phiền bởi ông chồng lúc lóe sáng ý tưởng sáng tác thì rồ lên như bắt được vàng, lúc đăm chiêu nghĩ ngợi ánh mắt sâu thẳm như đáy đại dương. Cái sự bất bình thường của người văn ấy, bà vợ nào chịu nổi? Ấy là chưa kể những người sáng tác thiên về cảm xúc, bị cảm xúc dẫn dắt, thì ngồi vào bàn viết bất kể lúc sáng, trưa, chiều, tối, vợ con chờ mâm cơm để nguội. Có thi sĩ tứ thơ vụt hiện, bỗng như nhập đồng, ý tưởng, nhịp điệu, hình ảnh tuôn ra rào rạt, đang trên đường ngồi sau tay lái xe máy của vợ cũng dừng lại, lấy giấy bút ra chép lại cho khỏi quên. Có văn nhân đang ăn cơm, một ý tưởng truyện hay bật ra từ trường liên tưởng nào đó, cũng bỏ đũa lấy bút ra ghi lại.

Đặc biệt có vị cứ thả cho cảm xúc trôi rồi đến một lúc nào đó trong mơ tiếng nói của tiềm thức vụt hiện. Tỉnh dậy là nhảy phắt khỏi giường ghi chép ngay kẻo sáng mai lại quên. Bà vợ nào chịu nổi? Đôi khi vật vã sáng tác mà chữ nghĩa cứ khô xác trên giấy, rồi bức xúc, cáu kỉnh. Cũng một hành động của vợ con lúc bình thường thì thấy thường tình, thậm chí còn thú vị, nhưng khi viết văn làm thơ bị tắc là khó chịu, quở trách vợ con. Người vợ nào chịu nổi?

Là văn nhân thì ông chồng nào cũng có một chân trời sáng tạo, muốn viết hay phải sống dấn thân, đi nhiều trải nghiệm lắm. Xa nhà liên miên là điều dễ xảy ra, ăn cơm thiên hạ nhiều hơn cơm vợ nấu. Đấy là "chuyện thường ngày ở huyện" của những người làm vợ nhà văn nhà thơ đối mặt và chấp nhận, chịu đựng.

2. Còn một nỗi cơ cực trực tiếp là cái túng thiếu, nghèo khó của người làm nghề sáng tác văn thơ cũng khiến cho vợ oằn vai. Nhà thơ Nguyễn Bính đã từng dặn con: "Nhất kiêng đừng lấy chồng thi sĩ/ Nghèo lắm con ơi! Bạc lắm con!"; còn nhà thơ Xuân Diệu nói: "Cơm áo không đùa với khách thơ". Làm vợ văn nhân là phải chấp nhận chuyện mưu sinh lo cơm, áo, gạo, tiền, chứ không chỉ chịu đựng tính cách và cá tính của chồng. Tôi chưa gặp một văn nhân nào bị vợ bỏ vì viết văn làm thơ. Nếu họ có chia tay nhau thì cũng vì những lý do nào đó ngoài văn chương. Bởi người vợ của họ không chỉ có tình yêu thương chồng mà còn có sự chia sẻ, đặc biệt là sức chịu đựng, nhẫn nhịn đến mức thành nhân ái.

tohoai.jpg -0
Vợ chồng nhà văn Tô Hoài.

Người phải kể đầu tiên là bà Phạm Thi Mẫn - vợ của thi sĩ Trần Tế Xương, còn gọi là Tú Xương. Làm vợ ông Tú nghèo hay thơ, nên bà Mẫn thành người lo toan, bươn chải: "Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười". Làm vợ nhà thơ không biết làm ra tiền nên bà phải lam lũ, nhọc nhằn: "Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng/ Lặn lội thân cò khi quãng vắng/ Eo sèo mặt nước buổi đò đông". Làm vợ nhà thơ nghèo đã khổ rồi, làm vợ ông Tú 8 lần thi hỏng 7 lần thì càng cơ cực hơn. Quyết mộng khoa bảng nhưng lận đận trường thi, ông Tú chán đời ăn chơi phong lưu: "Ăn rặt những thịt quay, lạp sườn/ Mặc rặt những quần vân, áo xuyến, nghiện chè, nghiện rượu, nghiện cả cao lâu...", vậy mà bà chịu được.

Nhưng quá giới hạn đỉnh điểm sức chịu đựng của vợ nhà thơ là ông Tú hỏng thi năm 1900 (Canh Tý) sinh ra chán nản, ăn chơi phóng túng, trong lúc đàn con nheo nhóc, thì bà dọa tử tử. Ông Tú Xương sợ quá, và biết mình quá đáng, có lỗi lớn, làm "Văn tế sống vợ" đùa vui nịnh khéo, làm lành với mẹ của con mình. Ông dùng các chữ giản dị, dân dã, mộc mạc trong hơn chục bài thơ dành cho vợ: "bu nó", "mẹ đĩ", "mẹ mày", "mình" mà rất âu yếm, yêu thương. Không phải ai cũng yêu thương, ai cũng sắm tròn vai vợ nhà thơ như bà Phạm Thị Mẫn để được chồng sám hối làm "Văn tế sống vợ", để chồng xót xa làm thơ "Thương vợ" và hơn chục bài thơ khác.

3. Đặc trưng của lao động nhà văn là sử dụng ngôn ngữ để sáng tác ra tác phẩm văn học. Dù nhà văn chọn nghề hay nghề chọn nhà văn thì tác giả cũng phải có năng khiếu văn chương, có tâm hồn nghệ nghĩ, có say mê sáng tạo và dấn thân nghề nghiệp. Có lẽ làm vợ nhà văn nhà thơ dễ hay khó, an lành hay bất ổn, thú vị hay phiền hà, sung sướng hay khổ sở cũng ở cái "tính nghệ sĩ", cái "tâm hồn nghệ sĩ" chăng? Chiều được ông chồng lãng đãng phiêu bồng, hay tỉnh táo sáng tạo đều phải là người vợ hiền có phẩm chất đặc biệt.

Chiều chồng "vô địch" có lẽ là bà Vũ Thị Tuệ - vợ nhà văn Nguyễn Tuân. Ông Nguyễn vốn tính "ngông", tôn thờ "chủ nghĩa xê dịch", không chịu ngồi một chỗ ở một nơi, giang hồ phóng khoáng, vào Sài Gòn, sang Lào, đến Nam Vang,… Lúc sinh người con thứ hai được hai tháng, ông cùng bạn bè đi Thái Lan, bà Tuệ thu vén tiền của cho ông mang theo. Máu nghệ sỹ, thích thưởng thức ca trù, ông ôm trống chầu, cầm roi chầu "tom", "chát" điêu luyện, sành sỏi trong đêm hát ả đào. Một đêm có người đến tận nhà báo tin, rằng ông Nguyễn đang hát ả đào, bà vẫn bình tĩnh để chồng vui hết đêm, rồi ông lại về với bà. Vì bà tin ông không làm điều gì có lỗi.

Nhà viết kịch Vi Huyền Đắc đã từng kể: "Đi hát với Nguyễn Tuân tốn kém lắm! Ngoài tiền chi cho chầu hát còn phải đền cho chủ nhà những ly chén do Nguyễn Tuân trong cơn say đã làm vỡ". Bà Tuệ chịu được cả những thú vui quá chén, lối sống tự do của chồng. Chiều chồng, nhẫn nhịn thương yêu, bà là bến đỗ vững chắc chắp thêm sức mạnh cho Nguyễn Tuân tài hoa sống "xê dịch", viết duy mỹ về hiện thực cuộc sống trụy lạc, lối sống xê dịch và vẻ đẹp một thời vang bóng. Văn học Việt Nam có những tác phẩm độc đáo như "Một chuyến đi", "Vang bóng một thời", "Chùa đàn"… cũng một phần công lao bà vợ tào khang của Nguyễn Tuân.

Thời chiến tranh, thời bao cấp khó khăn, bà Nguyễn Thị Cúc - vợ nhà văn Tô Hoài "lo cái bếp đỏ lửa quanh năm", tiết kiệm từng thanh củi, từng vốc mùn cưa, vỏ trấu nấu ăn chu đáo, chăm sóc sức khỏe cho chồng viết văn. Cả đời tần tảo, chưa một lần bà hỏi chồng về chuyện tiền lương, tiền giải thưởng, tiền nhuận bút. Chỉ có yêu thương mới chịu đựng, chấp nhận, bà nói với Tô Hoài bằng thơ tự làm và cũng là tự nhủ lòng mình: "Yêu anh em bỏ đời nhung lụa/ Đến với anh mãi tận bây giờ". Làm vợ nhà văn, nhà thơ là phải chấp nhận mọi thứ, thiệt thòi mọi điều, nhưng bù lại là được đền đáp bằng tình yêu thương và cùng con cháu hưởng trái ngọt sáng tác của chồng.

Tôi đã từng nghe kể: bà Nguyễn Thị Doanh - vợ nhà thơ Nguyễn Minh Châu, có lần nhà văn đưa cho bà một bản thảo nhờ bà đọc. Bà đọc chăm chú, rồi bật cười. Ông hỏi: "Em cười gì?"; "Cười cái đoạn anh tả người vợ đau đẻ ấy. Em đau đẻ có như thế đâu". Rồi bà kể về chuyện phụ nữ mang thai, động thai, đau đẻ, rặn đẻ cho ông nghe. Ông nghe và viết lại cái đoạn ấy gần giống như lời bà kể. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước, nhà văn Nguyễn Minh Châu bị ung thư, bệnh viện lớn bó tay. Bà hy vọng và cầu may, chữa bằng thuốc nam.

Thời bao cấp đói nghèo, tay xách nách mang, bà đưa chồng đi khắp ngoài bắc trong nam chữa trị. Sau khi ông mất, bà ngồi tỉ mẩn sắp xếp tác phẩm đã in, chưa in và 23 tập nhật ký của chồng. Bụi mờ thời gian làm cho nhiểu quyển nhật ký ông ghi từ năm 1956 đến lúc ốm nặng đã ố vàng, nhiều chữ nhòe, và cuốn nào cũng chi chít chữ viết tắt, chữ mất nét khó đọc. Lo lắng di cảo của chồng bị nấm mốc, mủn nát, và không ai đọc nổi chữ viết tháu viết tắt của ông, bà ngồi cặm cụi chép lại, chép lần lượt từng cuốn nhật ký, chép đến trang cuối cùng cuốn nhật ký thứ 23 cho rõ ràng.

 Viết đến đây, tôi lại nhớ câu chuyện bà Võ Thị Quỳnh - vợ nhà văn Nguyễn Quang Hà - nguyên Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Bà là giáo viên dạy văn trường chuyên, thuộc thơ nhớ văn của Nguyễn Quang Hà như in trong đầu. Lên lớp, bà thường đem thơ của ông ra đọc, hoặc kể lại một truyện ngắn của ông cho học sinh chuyên văn giữa hai tiết giải lao. Trước thì mê thơ văn sau thì mê tác giả, đắm say yêu cái khí chất sĩ phu Bắc Hà của ông. Làm vợ nhà văn Nguyễn Quang Hà, bà gánh thay luôn gánh nặng đang chồng chất trên vai ông với mẹ già và con riêng của chồng. Vượt qua trùng điệp thị phi, vừa dạy học vừa chăm mẹ chồng, nuôi con mình, nuôi con riêng của chồng, rồi lo công ăn việc làm cho các con. Vậy mà, đêm chấm bài xong, bà lại đem bản thảo của chồng ra đọc, chữa từng lỗi chính tả cho ông.

Hầu chuyện nhà văn Nguyễn Quang Hà, tôi nói đùa: "Văn của bác có chỗ rất phiêu bồng lãng mạn, dịu dàng, có khi chị Quỳnh thò bút vào viết thêm một đoạn cho bác". Ông cười tươi rạng rỡ, bảo: "Tuyệt vời lắm, Minh ạ. Anh biết ơn cô ấy cả đời". Dường như Thượng đế ban tặng, đền bù cho nhà văn Nguyễn Quang Hà một người yêu, người vợ thảo hiền sau những mất mát đau đớn tưởng như không chịu nổi của ông trong đoạn đời chiến tranh xa quê biền biệt.

Làm vợ nhà văn nhà thơ, đói nghèo một thuở đã lui về dĩ vãng.

Khoảng hai chục năm gần đây, đời sống văn nhân nước ta đã khá hơn nhiều so với thời trước. Nhiều vị có nhà lầu, xe hơi, sách in đẹp cho, tặng không đắn đo. Nhưng, quả thật để sống giàu sang bằng nghề sáng tác văn chương ở nước mình đếm chưa hết mười đầu ngón tay, hầu hết sống được từ nghề khác rồi viết văn làm thơ như cái nghiệp. Có thể nói rằng: các ông nhà văn nhà thơ thành danh đều có người vợ hiền làm hậu phương vững chắc, âm thầm đứng đằng sau những tác phẩm lớn nhỏ và vinh quang của chồng. 

Sương Nguyệt Minh

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?