Khi đất kể câu chuyện thời đại

Bước vào không gian trưng bày điêu khắc gốm của Giáo sư, họa sĩ, Viện sĩ Ngô Xuân Bính, tôi có cảm giác như đang đi ngược dòng thời gian, trở về với miền ký ức sâu thẳm của đất. Ở đó, những khối tượng nặng, thô mộc, sẫm màu, đứng lặng lẽ mà uy nghi, như những cột mốc tâm linh trầm mặc. Không ồn ào, không phô trương, nhưng chính sự lặng lẽ ấy lại tạo nên một sức hút khó cưỡng, buộc người xem phải chậm lại, phải lắng nghe và đối thoại.

Cảm xúc được đánh thức

Trong nhịp sống đô thị ngày càng gấp gáp, khi nghệ thuật đương đại không ngừng mở rộng biên độ biểu đạt bằng những phương tiện và ngôn ngữ mới, điêu khắc gốm – một lĩnh vực tưởng như đã lắng sâu trong truyền thống – bỗng trở lại đầy mạnh mẽ. Và trong dòng chảy ấy, thế giới điêu khắc của Ngô Xuân Bính hiện lên như một cõi riêng, nơi đất không chỉ là vật liệu, mà trở thành ngôn ngữ, trở thành ký ức, trở thành tư tưởng.

2278612851324185331.jpg -1
Giáo sư - họa sĩ Ngô Xuân Bính giới thiệu tác phẩm điêu khắc "Hiện linh".

Ấn tượng đầu tiên khi đứng trước các tác phẩm của Ngô Xuân Bính là “sức nặng thị giác”. Những khối tượng lớn, đặc, vươn cao theo trục đứng, tạo nên cảm giác vừa cổ xưa, vừa linh thiêng. Không gian trưng bày như được bao phủ bởi một bầu không khí trầm mặc, khiến người xem tự nhiên hạ thấp giọng nói, bước đi nhẹ hơn, như sợ làm xáo trộn sự yên tĩnh vốn có.

Bề mặt tượng gồ ghề, thô ráp, đầy những vết khắc, vết nứt, những hốc rỗng bất định. Ở đó, dấu vết của bàn tay nghệ sĩ hiện diện rõ ràng, không che giấu, không trau chuốt, như muốn giữ lại trọn vẹn quá trình lao động sáng tạo. Mỗi tác phẩm giống như một cơ thể sống, mang theo hơi thở của đất, của lửa, của thời gian và của những suy tư lắng đọng.

Ánh sáng chiếu lên bề mặt gốm tạo nên những mảng sáng – tối tương phản mạnh, làm nổi bật cấu trúc khối và chiều sâu không gian. Tượng không chỉ hiện diện như những vật thể tĩnh, mà dường như đang chuyển động trong tâm trí người xem. Cảm giác đó khiến tôi liên tưởng đến những không gian tín ngưỡng cổ, nơi con người tìm đến không phải để ngắm nhìn, mà để chiêm nghiệm và tự vấn.

Điêu khắc gốm của Ngô Xuân Bính không hướng đến vẻ đẹp trơn nhẵn, hoàn mỹ. Ngược lại, ông chủ trương một thứ thẩm mỹ thô mộc, nguyên sơ, nơi hình khối được tổ chức theo lối “dồn nén, chồng lớp, giàu năng lượng nội sinh”. Cấu trúc tác phẩm thường vươn theo trục đứng, gợi liên tưởng đến khát vọng hướng thượng – một đặc điểm quen thuộc trong tư duy mỹ học phương Đông.

Hình thể con người trong tượng được giản lược tối đa. Những đường nét mềm mại, trau chuốt bị thay thế bằng các mảng khối chắc, khỏe, đôi khi gai góc. Sự méo lệch, bất cân xứng không phải là khiếm khuyết, mà là chủ ý tạo hình, nhằm chuyển tải trạng thái tâm lý và những xung đột nội tâm. Chính sự “không hoàn hảo” ấy lại làm nên vẻ đẹp rất riêng, gần gũi với số phận con người trong đời sống thực.

Đặc biệt, hình tượng gương mặt xuất hiện với mật độ dày đặc. Đó là những khuôn mặt không tên, không tuổi, đôi mắt khoét sâu, biểu cảm mơ hồ giữa ngây thơ và u uẩn. Ở một số tác phẩm, nhiều khuôn mặt chồng lớp, đan xen, tụ lại thành một khối lớn. Cảm giác về đám đông, về cộng đồng hiện lên rất rõ. Nhưng đó không phải là đám đông ồn ào, mà là một cộng đồng lặng lẽ, mỗi cá nhân đều mang trong mình một thế giới nội tâm riêng. Sự chồng xếp ấy gợi đến ký ức tập thể, đến lịch sử, đến những phận người nhỏ bé trong dòng chảy bất tận của thời gian.

Chiều sâu nhân sinh và không gian tâm linh

Chất liệu gốm trong tay Ngô Xuân Bính không chỉ là phương tiện kỹ thuật, mà trở thành một phần quan trọng trong tư duy nghệ thuật. Đất – nguyên liệu gốc rễ của sự sống – khi đi qua lửa, trở nên bền chắc, vĩnh cửu. Quá trình ấy cũng giống như hành trình của con người: từ mong manh đến trưởng thành, từ hữu hạn đến khát vọng vươn tới vô hạn. Những bề mặt thô ráp, những vết nứt tự nhiên không bị che giấu, mà được giữ lại như một phần của ngôn ngữ tạo hình.

Ở đây, đất không còn là vật liệu vô tri. Đất cất lời, kể những câu chuyện về con người, về ký ức, về những biến động của đời sống. Chính sự giao cảm ấy khiến điêu khắc gốm của Ngô Xuân Bính vượt ra khỏi phạm vi tạo hình thuần túy, để trở thành một không gian đối thoại giữa nghệ sĩ và công chúng.

Ẩn sau hình khối mạnh mẽ là một thế giới tư tưởng phong phú. Điêu khắc của Ngô Xuân Bính không nhằm kể những câu chuyện cụ thể, mà gợi mở những suy tư rộng lớn về “thân phận con người, cộng đồng và mối quan hệ giữa con người với vũ trụ”.

2.jpg -0
Các tác phẩm gốm của Giáo sư, họa sĩ Ngô Xuân Bính.

Nhiều tác phẩm đặt con người trong trạng thái trầm tư, cô độc, nhỏ bé trước những khối tượng đồ sộ mang dáng dấp kiến trúc tâm linh. Ở đó, ta bắt gặp hình ảnh con người hiện sinh, luôn đi tìm ý nghĩa tồn tại trong một thế giới đầy biến động. Sự đối lập giữa cái nhỏ bé của cá nhân và cái rộng lớn của không gian khiến cảm giác về nỗi bất an, hoang mang trở nên rõ nét.

Bên cạnh đó, chiều sâu tâm linh là một mạch nguồn xuyên suốt. Dấu ấn của Phật giáo, Đạo Lão, tín ngưỡng dân gian Việt Nam thẩm thấu trong từng cấu trúc khối, từng nhịp điệu tạo hình. Những trục đứng vươn cao, những bố cục tháp tầng, những gương mặt trầm mặc gợi nên không khí thiền định, dẫn dắt người xem vào hành trình nội tâm.

Ở một góc nhìn khác, các nhóm tượng đông người lại mở ra không gian của cộng đồng và ký ức tập thể. Những khuôn mặt vô danh xếp chồng, gợi đến lịch sử, đến những lớp người nối tiếp nhau trong hành trình tồn sinh. Đó không chỉ là câu chuyện của quá khứ, mà còn là suy tư về hiện tại và tương lai, về trách nhiệm của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Điều đáng trân trọng ở Ngô Xuân Bính là sự kiên định trong con đường sáng tạo. Ông không sao chép hình thức tượng cổ, cũng không chạy theo các trào lưu trừu tượng cực đoan. Thay vào đó, ông chọn cách “đối thoại với truyền thống bằng ngôn ngữ hiện đại”.

Trong hình khối và bố cục, người xem có thể nhận ra thấp thoáng bóng dáng của tượng thờ dân gian, của điêu khắc đình chùa, của mỹ thuật Chăm và văn hóa Đông Nam Á. Tuy nhiên, tất cả đã được chắt lọc, tái cấu trúc, giải phóng khỏi tính mô phỏng để trở thành một ngôn ngữ tạo hình mới, giàu tính biểu hiện.

Chất liệu gốm – vốn gắn bó với đời sống dân gian – khi được đưa vào điêu khắc hiện đại, đã mở ra những khả năng biểu đạt mới. Trong tay Ngô Xuân Bính, gốm không chỉ mang vẻ đẹp mộc mạc, mà còn hàm chứa chiều sâu triết học. Đó là sự kết nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa đời sống thường nhật và không gian tâm linh.

Trong dòng chảy điêu khắc đương đại

Trong “bức tranh” đa dạng của điêu khắc đương đại Việt Nam, điêu khắc gốm của Ngô Xuân Bính nổi bật bởi “tính nhất quán về phong cách và chiều sâu tư tưởng”. Ông không tìm kiếm sự khác lạ bằng những hình thức gây sốc, mà chinh phục người xem bằng sự bền bỉ, lặng lẽ và nội lực sáng tạo.

Về mặt tạo hình, ông đã góp phần mở rộng biên độ biểu đạt của điêu khắc gốm, đưa chất liệu này vượt ra khỏi phạm vi trang trí, tiểu thủ công để bước vào không gian nghệ thuật hàn lâm. Về tư tưởng, ông làm sâu sắc nội dung nhân sinh và tâm linh trong điêu khắc hiện đại, đặt ra những câu hỏi lớn về con người, cộng đồng và ý nghĩa sống.

Không khó để nhận ra rằng, mỗi tác phẩm của Ngô Xuân Bính đều mang trong mình một tầng triết lý. Đó là sự suy tư về bản thể, về mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội, giữa hữu hạn và vô hạn. Chính chiều sâu ấy giúp tác phẩm vượt qua ranh giới của cái đẹp thuần túy, để trở thành đối tượng chiêm nghiệm, đối thoại và tự vấn. Điêu khắc gốm của Viện sĩ Ngô Xuân Bính là một thế giới nghệ thuật đặc biệt, nơi đất không chỉ là vật liệu, mà trở thành ký ức và tư tưởng. Những khối tượng thô mộc, nặng trĩu ấy chứa đựng trong mình câu chuyện về con người, về cộng đồng và về hành trình đi tìm ý nghĩa tồn tại.

Trong bối cảnh xã hội hiện đại nhiều biến động, nghệ thuật của ông như một lời nhắc nhở nhẹ nhàng mà sâu sắc: hãy chậm lại, lắng nghe tiếng nói từ bên trong, đối thoại với quá khứ để hiểu hiện tại và hướng đến tương lai. Khi đất cất lời, đó không chỉ là tiếng nói của nghệ thuật, mà còn là tiếng vọng của tâm linh và nhân sinh, vang lên bền bỉ trong dòng chảy không ngừng của thời gian.

Nguyễn Gia Bảy

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).