Hoa mai – bạch mai, hoàng mai!?

Đã thành tập quán, người miền Bắc đón xuân bằng hoa đào, người miền Nam đón xuân bằng hoa mai. Mỗi gia đình Nam bộ, xuân đến thường phải có một chậu hoa mai vàng mới ưng ý, mới sang trọng, mới phúc lộc. Phải chăng, đã từ lâu, màu vàng tươi quý phái của hoa được vua chúa chọn làm biểu trưng cho sắc màu hoàng tộc!

Cả hai loài hoa đào, mai đều rất đẹp, đều xứng danh “đệ nhất đại danh hoa”. Nhưng tại sao miền Bắc không mượn hoa mai làm biểu trưng cho mùa xuân và ngược lại? Câu trả lời đơn giản nhất là do khí hậu. Hoa mai ưa ấm áp, với thời tiết miền Nam thì hoa rất đẹp, cây dễ trồng, dễ chăm. Cây đào ưa lạnh, nếu gặp lúc nắng ráo, nhiệt độ cao thì hoa nở. Cây đào “khó tính” như cái nóng lạnh thất thường ở miền Bắc. Hoa mai “dễ tính” hơn, phóng túng, cởi mở như đất đai, khí hậu và con người Nam bộ.

Thực tế thì không đơn giản như câu trả lời trên.

Bởi nếu vậy thì hoa mai chỉ có ở miền Nam mà không có ở miền Bắc. Vì miền Bắc, như ta biết, càng trở về trước nhiệt độ càng thấp, theo logic ấy thì hoa mai càng vắng. Nhưng trong văn chương thì hoa mai lại xuất hiện rất nhiều.

Mai Vàng Phương Nam.
Mai Vàng Phương Nam.

Trong ca dao, theo một nghiên cứu tin cậy thì hoa mai, với tư cách một biểu tượng văn hoá, xuất hiện tới 30,5% so với các biểu tượng thực vật khác. Đáng chú ý là “mai” thường đi với “trúc” làm cặp biểu trưng cho sự sum họp, kết đôi: “Hôm qua sum họp trúc mai/ Tình chung một khắc nghĩa dài trăm năm”. Các cụ nhà Nho cũng lấy “mai”, cùng với “tùng”, “cúc”, “trúc” làm biểu tượng cho người quân tử. Như vậy rõ ràng cây mai, hoa mai đã quen thuộc với miền Bắc từ rất lâu.

Trong văn chương, hoa nói chung, hoa mai nói riêng là một thi liệu không thể thiếu trong thơ cổ.

Xuân về trăm hoa nở. “Hoa” trở thành biểu trưng cho mùa xuân. Ngày Tết, trên bàn thờ tổ tiên của người Việt bao giờ cũng có hoa. Ngoài ý nghĩa đón xuân còn là biểu hiện của tấm lòng thành dâng cúng tiền nhân. Hoa trở thành một phần hồn dân tộc!

Trong thế giới muôn hoa, hoa mai là một trong những loài hoa được yêu quý nhất. Bình dị, dân dã mà lại sang trọng, vương giả, cứng cỏi mà thanh tao được các thi nhân tôn thờ. Chu thần Cao Bá Quát có câu để đời: “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” (Một đời chỉ cúi lạy hoa mai). “Mai” biểu trưng cho cái quân tử, cao quý, thanh khiết, trong sạch.

Câu thơ “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/ Đình tiền tạc dạ nhất chi mai” (Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết/ Đêm qua sân trước nở nhành mai) của Mãn Giác thiền sư (thời Lý) nói về lẽ biến đổi của sự vật, cái trôi chảy của thời gian. Xuân có hết nhưng hoa vẫn còn. Thời gian cứ trôi nhưng tình người còn lại. Vạn vật biến đổi nhưng cái đẹp, cái khát khao của con người thì bất tử. Là thơ nhưng cũng là một tư tưởng triết học: con người đạt tới sự giác ngộ lẽ đạo là vượt khỏi cái vòng luân hồi của thời gian để yên vui với đời! Rất thiền mà cũng rất trần thế. Đấy là những câu thơ sống mãi!

Vua Trần Nhân Tông trong bài thơ “Mai” có hai câu: “Thiết đảm, thạch can lăng hiểu tuyết/ Tố quần, luyện thế nhạ đông phong” (Gan dạ, sắt đá vượt lên tuyết buổi sáng/ Quần lụa mộc, khăn lụa trắng đón gió đông). Theo ý tứ hai câu này thì sự “gan dạ” của hoa mai được so sánh với sắt đá vượt lên cả tuyết (tức tiết trời rất lạnh). Hoa mai cũng rất bình dị, mộc mạc như quần lụa, khăn lụa vậy. So sánh với “khăn lụa trắng” thì chắc chắn không phải mai vàng mà là mai trắng.

Tể tướng Trần Quang Khải trong bài “Lưu gia độ” có câu “Mai hoa như tuyết chiếu tình xuyên” (Hoa mai như tuyết chiếu xuống dòng sông lúc tạnh mưa). Cũng rõ ràng là hoa mai trắng.

Thơ Nguyễn Trãi nói nhiều đến yêu mai, yêu trăng, yêu tuyết. Có những câu tuyệt hay: “Quét trúc, bước qua lòng suối/ Thưởng mai, về đạp bóng trăng (Ngôn chí 2). Đi thưởng (xem) hoa mai về phải qua suối nên “quét trúc”, cầm gậy trúc quét xuống lòng suối để xem nông cạn mà bước qua. Dưới suối bóng trăng lấp loá, bước qua suối như đạp trăng mà đi. Đây không còn là thơ của thi nhân mà của thi tiên, người trời giáng xuống trần làm thơ.

Trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, hình tượng “mai” thật phong phú nhưng có nét chung là để chỉ những gì tốt đẹp, về dáng vẻ thanh nhã mảnh mai đài các của thiếu nữ: “Nét buồn như cúc điệu gầy như mai”; một bức thư mang tin vui: “Mở xem một bức tiên mai”; sự đoàn viên hạnh phúc: “Một nhà sum họp trúc mai”; một thiếu nữ xinh đẹp mảnh mai: “Gương lờ nước thuỷ, mai gầy vóc sương”; tin vào sự hài hoà viên mãn của trai tài gái sắc: “Chắc rằng mai trúc lại vầy”; chỉ người con gái đương thì vừa độ: “Quả mai ba bảy đương vừa”. Câu “Thờ ơ gió trúc mưa mai”, là nói về sự thờ ơ với duyên lành, với may mắn. Cũng không thật rõ cụ Nguyễn tả mai trắng hay mai vàng, có phần thiên về mai trắng nhiều hơn, như ở ẩn dụ “mai gầy vóc sương”.

Thế thì ngày trước ở miền Bắc nước ta đã có mai vàng chưa?

Giáo sư dược học nổi tiếng Đỗ Tất Lợi trong một bài báo có tên “Cây mơ, cây mai dưới con mắt người làm công tác khoa học” (1983) khẳng định: “Người Việt mới biết đến cây mai vàng khoảng 300 năm trở lại đây”. Dựa theo ý kiến này cùng sự phân tích công phu, nhiều người khẳng định hoa mai trong văn học trung đại Việt Nam là loài mai trắng, người Bắc thường gọi là hoa mơ, người Huế gọi là bạch mai, tuyết mai, hàn mai. Theo vậy thì hoa mai là hoa mơ (tên khoa học là Prunus mume S.et Z), cánh hoa nhỏ màu trắng, quả mai chính là quả mơ (ô mai). Còn hoa mai vàng (tên khoa học là Ochna integerrima) quen thuộc với đất phương Nam xứ nóng.

Nhưng thực tế lại đánh đổ mọi suy đoán và khẳng định

Mai vàng Yên Tử.
Mai vàng Yên Tử.

Năm 2007, người ta phát hiện cả một khu rừng bạt ngàn mai vàng ở Yên Tử. Có những cây mai cao đến 15 mét, đường kính thân 60-70cm, nhiều cành toả ra như những cánh tay hứng sương trời. Xuân về hoa nở tuyệt đẹp. Dù là “Đại lão mai” nhưng hoa không lớn, đường kính chỉ 2 - 3cm. Hoa 5 cánh màu vàng tươi, mùi thơm rất dễ chịu. Nghiên cứu của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam cho thấy, mai vàng Yên Tử với mai vàng miền Nam cùng một loài!

Thế là chúng ta từng có mai vàng xứ lạnh. Hẳn nhiên người ta có kế hoạch bảo vệ và nhân giống. Các nhà khoa học khẳng định giống mai vàng này đã có cách đây khoảng 800 năm.

Đấy là kiến thức khoa học. Nhìn vào lịch sử cũng thấy Hà Nội có quận Hoàng Mai, ngày xưa vốn là thái ấp của Thượng tướng quân Trần Khát Chân (đời Trần). “Hoàng Mai” là mai vàng. Phải chăng, từ đời Trần, Trần Khát Chân đã cho người đem mai từ Yên Tử về trồng ở đất Thăng Long!?

Thế là đã rõ, mai vàng đã có từ lâu, đủ để trở thành thi liệu trong thơ trung đại. Ta hiểu thêm vì sao hoa mai là nguồn thi hứng của nhiều thiền sư - thi sĩ thời Lý Trần. Ngoài gợi về hồn dân tộc, mai cũng mang sắc màu nhà Phật. Phải vậy chăng mà đầu xuân lên Yên Tử chiêm bái Phật hoàng Trần Nhân Tông sẽ thấy hình như mai vàng ở đây thanh khiết hơn mọi nơi khác.

Có một dấu nối tuyệt đẹp giữa Mãn Giác thiền sư - Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh, chỉ xét riêng ở hình tượng mai mà thôi. Cùng một đối tượng thẩm mỹ nhưng là ba miền ý nghĩa ở ba khoảng không thời gian: thơ Mãn Giác đậm sắc thiền, thơ Nguyễn Trãi vượt khỏi cái trần tục vươn tới cái cao cả, thơ Hồ Chí Minh vừa có thiền, vừa có tiên, vừa có cái khát khao đời thường về cái thái bình viên mãn.

Thơ Hồ Chí Minh có bài như thoát tục để vươn tới một thế giới “tiên”: “Hai mươi tư tháng sáu/ Lên ngọn núi này chơi/ Ngẩng đầu mặt trời đỏ/ Bên suối: một nhành mai” (Lên núi). Tháng sáu nhưng trên núi, trời lạnh, mai vẫn nở. Hiểu theo lối tiểu đối trong thơ, rất có thể ở đây là mai trắng. Có rất nhiều câu trong trẻo tinh khiết lạ thường: “Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ/ Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân” (Đường về chợt gặp cây mai núi/ Mỗi đoá hoa vàng một nét xuân (Tìm bạn không gặp). “Hoàng hoa” là hoa vàng, đây là hoa mai vàng. Trong nhà thơ Hồ Chí Minh có bóng dáng vị thiền sư thoát tục, có một thi nhân và có cả tâm hồn của một lão nông bình dân thuần hậu yêu bạn bè, say thiên nhiên.

Bài viết xin đưa ra một kết luận: “Từ thuở mang gươm đi mở nước”. Cha ông ta không chỉ mang gươm, với tâm hồn nghệ sỹ, mang theo cả mai vàng Yên Tử vào đất phương Nam. Theo năm tháng, hợp tình người, hợp phong thuỷ, mai vàng thành biểu trưng mùa xuân. Nhưng thẳm sâu trong biểu tượng ấy là nỗi lòng nhớ về đất tổ cố hương ngoài Bắc!

Chỉ là suy nghĩ cá nhân. Rất mong được bạn đọc góp bàn!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.