Hạnh phúc không ở đâu xa, ngay trong chén trà...

Vào đời Nguyễn, các thi hào Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Cao Bá Quát... đều có thơ tán tụng trà. Trà cùng với "Truyện Kiều" và tổ tôm trở thành ba thứ quốc đam mê mà nam nhi nước Việt không thể không biết: “Làm trai biết đánh tổ tôm/ Uống trà Mạn Hảo ngâm nôm Thúy Kiều”.

Trà tuy không đẹp như mỹ nhân nhưng hương thơm đáng yêu quý trăm lần. Trà là khúc nhạc du dương không có tiếng vang mà tự lòng người uống có dư âm hòa lại. Nên tự xa xưa, trà rất thịnh hành; vương công, triều sĩ, lê dân, ai mà không thưởng thức.

Trà nuôi thể xác, trà nuôi tinh thần

Giới trà sư cho rằng người Trung Quốc khám phá ra trà (chè) từ rất sớm. Trước hết được dùng cho y học, sau mới đến giải khát. Thư tịch cổ Trung Quốc gọi trà bằng nhiều tên, tên cổ nhất là đồ, có nghĩa đắng.

hình 1. chè shan tuyết cổ thụ.jpg -0
Một trong số 1.300 cây chè Shan tuyết cổ thụ được công nhận cây di sản Việt Nam.  

Cuốn sách khảo cứu về trà đầu tiên là cuốn "Trà Kinh" của Lục Vũ (733 - 804), một độc phẩm nghiên cứu về trà được xem khá đầy đủ nhất từ xưa đến nay. "Trà Kinh" ghi chép nguồn gốc của trà như sau: “Trà chỉ vi ẩm, phát hổ Thần Nông thị, vãn ư Lỗ Chầu Công”, có nghĩa uống trà bắt đầu từ đời Thần Nông (3320 - 3080 TCN) truyền đến đời Chu Công (Chu Công Đán, sinh 1143, chưa tìm thấy năm mất) nước Lỗ.

Thuyết này căn cứ trên sách "Thần Nông thực kinh" và "Chu Công nhĩ nhã". Cả hai quyển sách tuy nói dông dài về trà và luận bàn việc uống trà nhưng, chung quy lại: “Khổ trà cửu phục, linh nhân hữu lực duyệt chi”, nghĩa là trà đắng uống lâu người có sức khỏe và lòng cảm được an vui.

Những dược tính của trà khám phá từ đời Thần Nông được khoa học ngày nay công nhận. Trà có chức năng tăng cường các hoạt động của hệ tuần hoàn, làm người uống dễ chịu, uống thường xuyên sinh ra nghiện!

Vào đời Tam Quốc (213 - 280), sách "Hoa Đà thực luận" ghi: “Khổ trà cửu thực ích ý tứ”, ngụ ý trà đắng uống nhiều có ích cho sự nghĩ ngợi.

Đến đời Nam Bắc Triều (420 - 581), tục uống trà lan rộng khắp miền Giang Nam, nhờ các tăng lữ và đạo sĩ ẩn cư trong rừng núi trồng được những thứ trà quý đem đãi khách. Khách đến thăm, chủ nhân đãi trà mới là trân trọng. Sĩ phu Giang Nam nhận thấy cái hương vị đặc biệt của trà bèn bắt chước và bày ra cách uống trà rất tinh tế. Tuy nhiên, Lục Vũ vẫn luôn được coi là người mở đường trà đạo và khai sáng trà nghiệp. Thế nên sau khi Lục Vũ chết, ông được tôn là Thần Trà. Đời sau các hiệu buôn trà đều thờ ông, hàng ngày pha trà dâng cúng.

Còn cội nguồn trà Việt là ai mà cho ta thức uống kỳ diệu này? Trong bộ sách "Nam dược thần hiệu" của thiền sư Tuệ Tĩnh (1330 - 1400), ghi lại dược tính 499 vị thuốc nam, trong đó vị thứ 188 là Minh trà. Minh trà: trà ngon, vị ngọt, đắng, tính hơi hàn, trị chướng lị, tiêu thức ăn… Thiền sư khuyến khích dân chúng vùng cao trồng trà để chữa bệnh và giải khát. “Từ lời khuyên của ông, cây trà phát triển khắp nơi, thú uống trà của người Việt cũng hình thành từ đó”, trà sư Nguyễn Ngọc Tuấn - ông chủ hiệu trà Song Hỷ, nói.

Giới thưởng trà coi thiền sư Tuệ Tĩnh là Thánh tổ trà Việt. Các hiệu buôn trà, sản xuất trà ngày nay đều dành không gian riêng thờ phụng ông. Bởi hơn ai hết, họ không chỉ uống mà ngày đêm sống cùng với cây trà, chăm chút từng búp trà xanh để cho ra những chén trà thơm ngon. Trong lòng mỗi người Việt đều tự hào về những rừng trà Xùa cổ thụ ở Hà Giang, chè Shan tuyết ở Lào Cai, tồn tại hàng ngàn năm và phong tục uống trà được lưu truyền qua nhiều đời.

Người mệt mỏi uống trà cho tỉnh táo, lúc vui uống trà cho thêm vui, khi buồn uống trà để giải buồn, lúc suy tưởng uống trà cho thêm thâm trầm, sâu sắc.

Trong những dịp cưới hỏi, trà dùng làm đồ sính lễ, lấy ý trà có hương vị khả kính khả ái, mong cho vợ chồng lúc nào cũng yêu thương, tương kính.

Trà còn dùng để cúng Phật, cúng gia tiên. Với hàm ý trà hương thanh vị mỹ, một phẩm vật trân quý, dâng cúng để tỏ lòng thành kính và mong mỏi con cháu được hưởng chút hương thừa.

Tết đến dùng trà để biếu thầy học, các bậc tôn trưởng, bạn thâm giao, với ý trà có hương vị ngạt ngào, thanh khiết, lại trồng ở vùng đất cao ráo nên càng tỏ lòng ngưỡng vọng. Thế nên, gói trà đầu xuân là một trong những tặng phẩm quý giá và thông dụng bậc nhất của người Việt có từ xa xưa. Đặc biệt, vào những ngày tết, tân khách đến gia chủ dùng trà thủ tiếp.

Uống trà là một phương pháp tu thân…

Cho dù thuộc trường phái nào, uống trà cũng được coi là một nghệ thuật (trà ngon có vô số, tùy sở thích mỗi người nên người viết xin phép miễn luận bàn). Vì là nghệ thuật nên các dụng cụ phụ thuộc, phương pháp thực hiện đều được chuẩn bị kỹ lưỡng. Các cụ ngày xưa, nước dùng pha trà ngon nhất là lấy ở ngã ba sông cái, thứ đến nước giếng chùa, thứ đến nữa nước giếng nhà lâu năm, sau cùng mới tới nước mưa.

hình 2..jpg -1
Người dân Cao Lan, bản Ven, huyện Yên Thế, Bắc Giang, nhờ nghề chè, từng bước có cuộc sống ấm no.

Đun nước pha trà phải dùng củi luồng hoặc tre chẻ nhỏ, tối kỵ dùng củi từ cột chuồng nuôi gia súc. Các cụ không bao giờ dùng than hay rơm, vì đun bằng hai thứ này trà mất hương thơm. Chọn được nước và củi, còn phải canh chừng trong khi đun. Nước sôi non pha trà không ngấm. Nước sôi già quá trà sẽ nồng, làm mất hương. Nước sôi đúng độ là lúc bọt nổi lên như mắt cua. Khi pha trà, trước hết phải tráng ấm chén bằng nước sôi, bỏ trà vào ấm cho vừa phải rồi rót nước sôi vào. Sau đó đặt ấm lên một cái đĩa, đổ nước sôi đến lưng chừng đĩa để hơi nóng ở ngoài thúc vào trong ấm giữ cho nước trà lâu nguội mới bền hương. Khi chuyển trà ra chén tống, trong ấm có 3 phần nên rót ra 2 phần, giữ lại một phần để làm nước cốt, như thế thì đến nước cuối trà vẫn ngon và đượm.

Các cụ còn so sánh phép uống trà với rượu và thuốc phiện: tửu tứ, trà tam, nha phiến nhị. Nghĩa là uống rượu chỉ nên uống 4 ly, uống nhiều hơn sợ say thành ra sàm sỡ; uống trà chỉ nên uống đến nước thứ ba, nước thứ tư trở đi không còn hương vị; thuốc phiện thì hút sái nhì mới thật là ngon.

Cũng như các bộ môn nghệ thuật khác, nghệ thuật uống trà không chỉ xây dựng trên một số hình thức, mà còn có nội dung và ý nghĩa. Cả hai xuất phát từ lòng yêu chuộng cái đẹp giữa cuộc đời đầy rẫy những cạm bẫy xấu xa. Chẳng thế, một thi sĩ đời Tống (960 - 1279) nói ở đời có ba điều đáng tiếc: một là tuổi thanh xuân rực rỡ mà bị giáo dục xấu làm hư hỏng đi; hai là bức tranh đẹp mà bị kẻ phàm phu tục tử nhìn ngắm; ba là trà ngon mà bị người không biết pha làm hao phí.

Cho nên uống trà còn được coi là một khoa học kinh tế. Nó chứng minh rằng hạnh phúc không ở trong sự phức tạp, hoang phí mà ở trong sự giản dị. Vì rằng, uống trà phải tự tay mình pha lấy mới là người biết thưởng trà, không cần người hầu kẻ hạ như khi uống rượu. Cái câu trà nô, tửu tướng cũng từ đó mà ra.

Bởi uống trà cốt ở sự tĩnh. Tĩnh là danh từ của Nho, Lão; Phật giáo gọi trạng thái ấy là thiền định. Tĩnh để “minh minh đức”, để “vô vi”. Thiền định để cầu “giác ngộ”. Vậy thì uống trà là một phương pháp tu thân, một phương pháp tự thể hiện, một con đường đưa tới chân lý. Trong hương trà thơm ngát có thể cảm ra sự thận trọng, tế nhị của Nho giáo, cái táo bạo của Lão giáo, mùi vị giải thoát của Phật giáo. Nên khi bước vào cuộc trà mà không có lòng tôn quý người đối diện, mọi thứ phiền não sẽ lộ qua cử chỉ, hành vi và lời nói. Ắt cuộc trà trở nên vô vị.

Khi chúng tôi viết những dòng cuối cùng này thì bên ngoài hoa cúc, hoa mai nở vàng phiên chợ, báo hiệu xuân sang. Mùa xuân là mùa của sự sống mà tục uống trà cổ truyền của người Á Đông được xem là một nghệ thuật sống rất tinh tế. Khi pha trà chậm hay nhanh một chút, ấm trà sẽ không tròn vị. Trong cuộc sống đôi lúc chậm hay nhanh một chút những cơ hội, dự định, ước mơ cũng sẽ không trọn vẹn. Từ cuộc trà đơn giản mà ngẫm nghĩ cuộc sống phức tạp ngoài kia...

Văn Hào - Kỳ Phương

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...