Giang hồ mê chơi quên quê hương…

Nửa đêm tỉnh dậy, chợt nhớ về bao chuyện đã qua trong đời. Bỗng sực tỉnh, mình đã qua thời thanh niên, giờ thành một trung niên lúc nào không hay...

Dường như ai cũng được đi qua một thời tuổi trẻ tự do, sôi nổi, đầy mơ mộng, tháng ngày rong chơi tha hồ "đi mây về gió". Đến khi có gia đình riêng, cái tự do phiêu lãng xem chừng mất đi quá nửa, càng đông con thì gánh nặng cơm áo càng nhọc nhằn. Bất giác lòng bùi ngùi mà tự hỏi: Bao giờ lại được làm kẻ lang thang? Bỗng muốn vung bút viết nên bài Giang hồ luận.

1.Giang hồ vốn là một từ vay mượn từ tiếng Hán, được cấu tạo từ việc ghép hai yếu tố có giá trị đẳng lập là giang (sông) và hồ (hồ nước). Thoạt kỳ thủy, từ giang hồ có nghĩa gốc chỉ những người sống ngoài vòng pháp luật, thường là đối kháng với chính quyền đương thời (“Giang hồ quen thói vẫy vùng/ Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo” - Truyện Kiều). Nhưng sau đó, ý nghĩa này đã bị lui lại, mờ đi, nhường chỗ cho một ý nghĩa khác tích cực hơn, đó là ý nghĩa chỉ một lối sống tự do, phóng túng, lãng tử, không muốn bị ràng buộc vào những khuôn khổ gò bó.

Giang hồ lúc này gần với sự thể hiện lãng mạn của những tâm hồn nghệ sĩ, gắn với những xê dịch, những chuyến đi, đi để tìm cảm hứng sáng tạo và cũng để yêu thương thêm cuộc đời, con người, yêu non sông đất nước mình.

Trong thi ca cổ điển, giang hồ được coi là việc hết sức bình thường của những khách văn chương, của những nam nhi có chí tang bồng hồ thỉ. Với những tài tử hay anh hùng hảo hán thì giang hồ càng xuất hiện như một điều tất yếu. Từ đời Đường, giang hồ đã đi vào thơ của Đỗ Mục (803 - 852) qua bài "Khiển hoài" nổi tiếng: “Lạc phách giang hồ tái tửu hành/ Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh/ Thập niên nhất giác Dương Châu mộng/ Doanh đắc thanh lâu bạc hãnh danh” (Lưu lạc Giang Nam đã bấy lâu/ Cùng người nhỏ bé ở bên nhau/ Mười năm chợt tỉnh Dương Châu mộng/ Mang tiếng trăng hoa nghĩ lại sầu).

Còn trong thơ Việt, giang hồ có lẽ xuất hiện sớm nhất là trong thơ Nguyễn Trãi (1380 - 1442) ở bài "Giang hành" (Đi trên sông): “Tây tân sơ nghĩ trạo/ Phong cảnh tiện giang hồ/ Vũ quá sơn dung sấu/ Thiên trường nhạn ảnh cô/” (Bên Tây mái chèo tới/ Cảnh giục chí tang bồng/ Mưa dội trơ sườn núi/ Trời dài rõ cánh hồng).

Hai nhà thơ thời cận đại là Nguyễn Khuyến (1835 - 1909) và Tú Xương (1870 - 1907) đều có những câu thơ giang hồ, trong đó, ta có thể coi Nguyễn Khuyến đã tự gọi mình là khách giang hồ, còn Tú Xương đánh giá giang hồ là phẩm chất bậc nhất của một đời sống phong lưu tài tử: “Có phải tiếc xuân mà đứng gọi/ Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ/ Thâu đêm ròng rã kêu ai đó/ Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ” (Cuốc kêu cảm hứng),  "Cực nhân gian chi phẩm giá, phong nguyệt tình hoài/ Tối thế thượng chi phong lưu, giang hồ khí cốt” (Cái phẩm giá tột cùng trong thiên hạ, là tình với gió trăng/ Cái phong lưu bậc nhất trên đời, là giang hồ khí cốt - Tết dán câu đối).

Trong một bài thơ khác của Tú Xương, giang hồ lại xuất hiện như một lựa chọn để kết giao bằng hữu trong đời: “Ăn mặc vẫn ra người thiệp thế/ Giang hồ cho biết bạn tương tri” (Tự đắc).

 Cho đến đầu thế kỷ XX, giang hồ trong câu thơ nổi danh của Tản Đà (1889 - 1939) như thổi đến một khí chất mới mẻ, muốn phá tung hết thảy những gò bó và chật hẹp, mở ra một thời kỳ mới trong thi ca, để cảm hứng giang hồ tuôn chảy dào dạt hơn nữa trong sáng tác của một loạt thi sĩ của phong trào Thơ Mới (1932 - 1945), như Thế Lữ, Nguyễn Bính, Lưu Trọng Lư, Vũ Hoàng Chương, Bích Khê... Hoài Thanh thật có lý khi nhận định về Tản Đà trong lời mở đầu cuốn "Thi nhân Việt Nam", rằng ông là "người nối hai thế kỷ, dạo những bản đàn mở đầu cho một cuộc hòa nhạc tân kỳ đương sắp sửa: “Tài cao phận thấp chí khí uất/ Giang hồ mê chơi quên quê hương” (Thăm mả cũ bên đường).

2. Cảm hứng giang hồ trong thời kỳ Thơ Mới, theo nhận định của chúng tôi là một cách thể hiện thái độ với thực tại, với hoàn cảnh xã hội đương thời. Người trí thức nói chung, người nghệ sĩ nói riêng trong hoàn cảnh mất nước, chưa xác định được một con đường rõ ràng thì xê dịch được xem là một điều cần thiết, giống như hành trình của cái Tôi để tìm một lối thoát, để hiểu về thời đại và về chính mình, để tìm thêm những đối chứng cho quê hương và tình yêu.

Thế Lữ được xem là ngọn cờ tiên phong thổi vào Thơ Mới cảm hứng giang hồ chỉ cần với một bài “Giây phút chạnh lòng”. Chữ giang hồ đã được khúc xạ để biến thành một loạt điệp trùng con chữ như “lãng du”, “chinh phu”, “hải hồ”, “đường xa”, “gió bụi”, “phong sương”, “phiêu lưu”, “xa xăm”...: “Non nước đang chờ gót lãng du/ Đâu đây vẳng tiếng hát chinh phu/ Lòng tôi phơi phới quên thương tiếc/ Đưa tiễn anh ra chốn hải hồ (...) Rũ áo phong sương trên gác trọ/ Lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang”.

Với Lưu Trọng Lư, giang hồ được xem như một tuyên ngôn qua bài thơ cùng tên dài 78 câu. Cùng với từ giang hồ là sự xuất hiện hô ứng của một loạt đơn vị trong trường nghĩa này như: “phiêu lãng”, “phong trần”, “hồ hải”, “phiêu lưu”, “du tử”, “hồ bể”: “Thú hồ bể quyến mời du tử/ Niềm thê nhi khôn giữ được người/ Biết sao trái được tính trời/ Giang hồ cốt ấy trọn đời phiêu linh”.

 Giang hồ trong thơ Vũ Hoàng Chương, Bích Khê gắn với nhiều thổn thức, xa xót, cách chia, ly biệt: “Nẻo bướm rờn tươi lửa cố đô/ Mộng phai ca quán tủi giang hồ” (Nửa đêm ca quán), “Sóng dậy đìu hiu biển dấy sầu/ Lênh đênh thương nhớ dạt trời Âu/ Thôi rồi tay nắm tay lần cuối/ Chia nẻo giang hồ vĩnh biệt nhau” (Đời vắng em rồi), “Nửa cánh giang hồ bạc nhớ thương/ Đêm nay buồn lắm gục bên giường/ Ngoài ly Lý Bạch trời như mộng/ Sau khói phù dung mộng cố hương” (Mộng trong hương).

 Còn với Nguyễn Bính, đây có lẽ là thi sĩ Thơ Mới thể hiện cảm hứng giang hồ một cách đậm đặc nhất. Trong 272 bài thơ viết trước năm 1945, chúng tôi thống kê được chữ giang hồ xuất hiện tới 13 lần trong 13 bài thơ khác nhau, bên cạnh đó là 21 đơn vị khác góp phần thể hiện không khí giang hồ: “hồ hải”, “hải hồ”, “sông hồ”, “giang san”, “nước non”, “non nước”, “sông núi”, “núi sông”, “non sông”, “quán rượu”, “quán trọ”, “biên cương”, “biên thùy”, “ải”, “ải quan”, “quan hà”, “quan san”. Chưa dừng lại ở đó, thơ Nguyễn Bính trước 1945 còn xuất hiện tới 66 địa danh trải từ Bắc vào Nam, trong đó có cả những địa danh ngoài lãnh thổ Việt như Cao Miên, tổng số lần xuất hiện của 66 địa danh trên là 146 lần. Có thể kể tới những đơn vị nổi bật như: Hà Nội (21 lần), Huế (5 lần), Hà Đông (4 lần), Thanh Hóa (2 lần), Ninh Bình (2 lần), Hà Tiên (2 lần), sông Hương (3 lần), sông Thương (4 lần), chùa Hương (5 lần), sông Nhuệ (2 lần). Do phạm vi hạn hẹp của một bài viết, chỉ xin được dẫn vài câu thơ giang hồ tiêu biểu: “Nàng về kẻ đón người đưa/ Tôi chờ gì nữa mà chưa giang hồ” (Vu quy), “Giang hồ sót lại mình tôi/ Quê người đắng khói quê người cay men” (Anh về quê cũ),  “Đem thân đi với giang hồ/ Sân ga phẳng lặng bến đò lênh đênh” (Quê tôi)…

3. Giang hồ đôi khi là sự xô đẩy do hoàn cảnh của mỗi cá nhân. Với nam giới, đó có thể là hình ảnh những lữ khách trên bước đường gió bụi, chưa biết đi đâu về đâu, chưa biết nơi đâu là nhà. Bất chợt vang lên đâu đây giai điệu nao lòng của một tình khúc Huế: “Chiều nay mưa trên phố Huế/ Kiếp giang hồ không bến đợi/ Mà mưa rơi vẫn rơi rơi hoài cho lòng nhớ ai” (Mưa trên phố Huế - Nhạc và lời: Minh Kỳ - Tôn Nữ Thụy Khương).

Nhưng với nữ giới, có thể là những bi kịch đau lòng hơn về những kiếp hồng nhan đa truân: “Lũ chúng em chờ chàng qua chín kiếp/ Tình giang hồ phong nhụy vẫn nguyên hương (...) Tình nhân thế chua cay người lịch duyệt/ Niềm giang hồ tan tác lệ Dương Châu” (Dâng tình - Vũ Hoàng Chương), “Ngọn gió nào mang anh vào mộng mị/ Em giang hồ làm tiếng hát lang thang” (Gặp người em - Hoàng Trúc Ly), “Ngày mai trong nắng trắng ngần/ Cô thôi sống kiếp đầy thân giang hồ” (Tiếng hát sông Hương - Tố Hữu).

Giang hồ có thể mãi mãi là một khát vọng chính đáng của tình yêu tự do, vượt lên trên những lợi danh trần tục:  “Xin được làm mây, mà bay khắp nơi giang hồ” (Còn thương rau đắng mọc sau hè - Nhạc và lời: Bắc Sơn). Giang hồ có thể chỉ còn là nỗi nhớ của những tháng ngày một đi không trở lại: “Ôm lòng đêm, nhìn vầng trăng mới về, nhớ chân giang hồ” (Phôi pha - Trịnh Công Sơn). Giang hồ có thể là một tình cảm tha thiết gửi cả vào thiên nhiên, qua từng cánh chim, làn mây, cơn gió: “Về đây khi gió mùa thơm ngát/ Ơi lũ chim giang hồ/ Bao cánh đang cùng dật dờ trên khắp cố đô” (Đàn chim Việt - Nhạc và lời: Văn Cao).

Nhưng rồi sau cùng, giang hồ bao giờ cũng sẽ đến lúc gợi về thế đối ứng bên kia của nó, đó là sự trở về, sự quay lại cố hương trong nỗi niềm đoàn tụ. Thi sĩ vùng đồng bằng sông Cửu Long Phạm Hữu Quang (1952- 2000) đã tâm sự với chúng ta tấc lòng chân thực: “Giang hồ tay nải cầm chưa chắc/ Hình như ta mới khóc hôm qua/ Giang hồ ta chỉ giang hồ vặt/ Nghe tiếng cơm sôi cũng nhớ nhà” (Giang hồ).  Còn nhạc sĩ Hoàng Giác qua nhạc phẩm “Hương lúa đồng quê” viết từ năm 1950 đã cất lên một tiếng lòng để nói giùm bao trái tim người Việt: “Về đây nghe lòng quê đang thiết tha/ Về đây giang hồ bao năm cách xa/ Về đây hỡi người lênh đênh nhớ quê/ Chân trời bâng khuâng mơ về/ Về với lúa vàng”.

Đỗ Anh Vũ

Các tin khác

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Họa sĩ Nguyễn Trường Linh Khúc lãng du trong cõi mộng tàn thu

Gặp họa sĩ Nguyễn Trường Linh tại xưởng vẽ ở phố Tân Mai, Hoàng Mai, Hà Nội, tôi bất ngờ khi thấy anh thẫn thờ ngồi trước tác phẩm "Thương nhớ đồng quê". Tôi lặng lẽ ngồi kế bên ngắm hình những tàu lá chuối bị rách tả tơi vì mưa gió. Những viền vàng trên cây lá gợi nỗi buồn tàn úa man mác.

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà: Nồng nàn như đất bazan, thênh thang như gió đại ngàn

Đào Thu Hà vào Hội Nhà văn Việt Nam cùng năm với tôi. Hôm đấy, chúng tôi hẹn nhau ra Hà Nội trong một sáng cuối đông. Chuyến đi ngắn ngày nhưng đầy kỉ niệm. Buổi tối, chúng tôi lang thang cùng nhau ở Hà Nội, nói về văn chương và hành trình viết lách của nhau. Hóa ra cô gái đến từ núi đồi Gia Nghĩa (thuộc Đắk-Nông cũ) này khá đa năng với rất nhiều thể loại, và gặt hái nhiều thành công từ rất sớm.

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Làng gốm bên dòng Đa Nhim

Theo nhánh tẻ của sông Đa Nhim, dưới chân núi Pnum Trom Ủ (thuộc xã Quảng Lập, tỉnh Lâm Đồng) có plei (buôn) Krănggọ nổi tiếng với nghề làm gốm mộc của người Churu. Theo lý giải của những người già, “Krăng” là tên ông chủ đất khi xưa, “gọ” chỉ cái nồi đất. Tên buôn làng từ thuở xa xưa đã gắn với nghề gốm.

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Âm nhạc - thể thao kết nối thế giới

Tại World Cup 2026, âm nhạc lần đầu tiên trở thành tiếng nói quan trọng, song hành cùng thể thao như ngôn ngữ chung để truyền tải thông điệp đặc biệt về tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng và tôn vinh nhiều nền văn hóa đa dạng. Điều đó đã được phản ánh qua một bộ sưu tập nhạc nền đồ sộ cùng tham vọng biến sự kiện “thể thao vua” trở thành sân khấu giải trí hàng đầu thế giới.

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực Tương lai” của Việt Nam

Bốn xu hướng mở ra “Bản đồ Ẩm thực tương lai” của Việt Nam

Tại Future Menus 2026, đơn vị tổ chức đã giới thiệu bốn xu hướng được dự báo sẽ dẫn đầu thị trường ẩm thực toàn cầu trong thời gian tới. Đó là những xu hướng gợi mở giúp ngành ẩm thực Việt Nam phát triển. Bởi ẩm thực là một kênh hữu hiệu để thu hút du lịch và quảng bá văn hóa Việt ra thế giới.

Chinh phục những địa hạt mới

Chinh phục những địa hạt mới

Vừa qua, bộ phim “Ốc mượn hồn” đã có màn ra mắt ấn tượng với khán giả cả nước. Không chỉ mang đến cho khán giả trải nghiệm điện ảnh mới mẻ, bộ phim còn là dấu ấn mới trên hành trình làm nghệ thuật của đạo diễn Đinh Tuấn Vũ, sau 7 năm xa màn ảnh rộng.

Gomshow có những suất diễn định kỳ tại Hà Nội là nỗ lực của cả ê kíp.

Từ vở ballet “Gat” đến câu chuyện phát triển công nghiệp văn hóa

Những chuyển động ballet đương đại hòa cùng hình ảnh chiếc mũ Gat truyền thống của Hàn Quốc trên sân khấu Nhà hát Hồ Gươm trong chương trình “Mùa Hàn Quốc 2026” gợi cho chúng ta, những khán giả Việt Nam, nhiều suy ngẫm. Đó không chỉ là một đêm diễn nghệ thuật mà là một lát cắt cho thấy cách Hàn Quốc đang kể câu chuyện văn hóa của mình với thế giới - bằng ngôn ngữ nghệ thuật hiện đại, mới mẻ, mang tính toàn cầu.

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

AI và sự hủy hoại của sáng tạo tự thân

Nhà văn - dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng trong nhiều bài viết và những cuộc đàm luận sâu về chủ đề lạm dụng AI trong viết sáng tạo, ông đã cảnh báo việc lạm dụng AI trong sáng tác là hành vi tự hủy hoại sự sáng tạo của người viết, đồng thời đặt ra vấn đề trách nhiệm của tác giả, biên tập và các thiết chế văn học trước làn sóng “chữ nghĩa AI” đang lan rộng. Nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh cũng có nhiều ý kiến sâu sắc về vấn nạn sáng tạo văn chương lạm dụng AI. Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện ngắn với nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng và nhà thơ Nguyễn Bích Hạnh về chủ đề này.