Gia Long, Minh Mệnh và chuyện thiết kế lại một Việt Nam thống nhất

Một trong những vấn đề quan trọng nhất của lịch sử Việt Nam sơ kỳ hiện đại (1600-1850) là quá trình mở rộng không gian chính trị người Việt. 

Đặc trưng của quá trình này là lãnh thổ mở rộng từ Bắc vào Nam, còn quyền lực chính trị - quân sự dịch chuyển từ Nam ra Bắc.

Cuối cùng, một đạo quân như thế đã tiến từ Gia Định ra Phú Xuân và Thăng Long, lần đầu tiên thống nhất toàn bộ miền duyên hải phía Đông Đông Nam Á lục địa thành một thực thể chính trị duy nhất vào năm 1802: Việt Nam.

Nhiệm vụ tiếp theo của người cầm quyền là phải tái cấu trúc không gian địa lý đó theo các cách thức có thể cai trị được, dung hòa các xung đột vùng và giúp vận hành hệ thống nhà nước, nếu không cấu trúc địa lý này sẽ nhanh chóng rạn nứt và sụp đổ như những gì đã diễn ra vào cuối triều Tây Sơn.

Sứ mệnh này đặt lên vai của hai vị vua đầu triều Nguyễn là Gia Long (1802-1820) và Minh Mệnh (1820-1841). Hai người này và các cộng sự tại triều đình Huế sẽ loay hoay tìm cách thiết kế lại không gian Việt Nam với tư cách là một “vương quốc”, một “lãnh thổ”, một “không gian địa lý”, “không gian văn hóa-văn minh” và một bản sắc chính trị.

Ở đó, chúng ta thấy những gian nan của cha ông thuở ban đầu trong việc xác lập nên nước Việt Nam hiện đại. Thống nhất được lãnh thổ đã khó, duy trì sự thống nhất và tổ chức hệ thống quản trị nhà nước trên vùng lãnh thổ đó còn gian lao gấp bội.

Nguyễn Phúc Ánh là người đầu tiên biến hạ lưu sông Mekong thành một thế lực kinh tế-chính trị tham gia trực tiếp vào tranh chấp quyền lực ở Việt Nam. Nhà Tây Sơn đã cố gắng làm điều này với việc cử Nguyễn Lữ vào trấn trị Gia Định. Tuy nhiên, việc chia rẽ giữa 3 anh em và cái chết của ông năm 1787 mở đầu cho sự quay trở lại của Nguyễn Phúc Ánh.

Tây Sơn là nạn nhân của chính dự án lãnh thổ mà họ triển khai. Họ gặp lúng túng trong việc tổ chức lãnh thổ mới, xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc, phân phối tài nguyên và tổ chức quân sự. Tây Sơn thất bại vì họ chưa sẵn sàng làm chủ không gian lãnh thổ mà mình vừa mới giành được.

Nguyễn Phúc Ánh xuất hiện ở hạ lưu sông Mekong vào đúng thời điểm. Sau nhiều thế kỷ khai thác, vùng đất này trở thành trung tâm kinh tế mới ở Đông Nam Á. 

Các cảng thị như Hà Tiên, Gia Định..., mạng lưới người Hoa, buôn bán lúa gạo, lâm sản, trao đổi vũ khí, truyền giáo, kết nối với các mạng lưới thương nhân châu Âu... biến vùng châu thổ sông Mekong thành một trung tâm kinh tế và dân cư năng động bậc nhất trong khu vực. Đây là một trong những nhân tố quyết định sự phục hưng thành công của họ Nguyễn.

Bức vẽ vua Minh Mệnh trong sách của John Crawfurd (London, 1828).
Bức vẽ vua Minh Mệnh trong sách của John Crawfurd (London, 1828).

Dù vậy, việc sáp nhập hạ lưu sông Mekong đã làm thay đổi căn bản cấu trúc địa lý và cán cân quyền lực chính trị người Việt. Vào năm 1802, Việt Nam sở hữu lãnh thổ trải dài từ Bắc xuống Nam nhưng hẹp theo chiều Đông - Tây. Vì thế, người Việt phải dàn ra trên một không gian địa lý phân tán và đường bờ biển dài hơn 3.200 km.

Bằng cách kéo dài một thực thể địa-chính trị 550 km (Lạng Sơn-Hà Tĩnh) ra một không gian dài 2.000 km (đến Hà Tiên), lãnh thổ của Việt Nam năm 1840 ít nhất gấp 3 lần so với năm 1400.

Đây là thách thức mới trong việc định hình bản sắc địa lý Việt Nam, tổ chức, quản lí lãnh thổ, điều tiết các mạng lưới kinh tế và vận hành hệ thống quân sự. Mỗi bước đi của Gia Long và Minh Mệnh có ý nghĩa quyết định tới tương lai của nước Việt Nam. Liệu lãnh thổ này sẽ được cai trị như thế nào? Kinh đô sẽ đặt ở đâu? Nhà nước được tổ chức ra sao? Và cuối cùng, liệu nhà Nguyễn có rơi vào tình thế của nhà Tây Sơn?

Đầu tiên là việc định đô và tổ chức lãnh thổ. Sự mở rộng đất đai quá nhanh để lộ ra những thay đổi “chết người” của cấu trúc quyền lực theo phân vùng địa lý. Nó làm đứt gãy trật tự truyền thống của không gian “Đại Việt” để thai nghén không gian “Việt Nam”. Quá trình này kéo dài 3 thế kỷ với những cơn đau dữ dội mà điển hình là các cuộc chiến tranh kéo dài giữa Trịnh-Nguyễn, Tây Sơn với Trịnh-Nguyễn, Nguyễn với Tây Sơn.

Các cuộc chiến đẫm máu này phá vỡ trật tự quyền lực địa, chính trị truyền thống. Cấu trúc mới sẽ là sự tranh giành của Gia Định, Phú Xuân và Thăng Long để trở thành trung tâm của nước Việt Nam thống nhất.

Gia Long có lí do chính đáng khi chọn vùng đất của tổ tiên làm đế đô. Cách Hà Nội 700 km và Gia Định 900 km, Huế có thể nhận được báo cáo khẩn từ Hà Nội sau 4 ngày 6 giờ, từ Hà Tiên sau 12 ngày 6 giờ (1836). Có 2 điểm bất lợi làm giảm khả năng cơ động của Huế trong việc cai trị Việt Nam.

Thứ nhất, Huế là đô thị nhỏ hẹp. Sông Hương và các cửa biển xung quanh nông, thường xuyên bị cát bồi. Đó không phải là nơi lí tưởng cho các hải cảng, tập hợp quân sự, trung chuyển hàng hóa. Thứ hai, người cầm quyền gặp khó khăn khi điều hành nền chính trị từ Huế. Vương triều này sẽ phải tiêu tốn nhiều nhân lực vào việc vận chuyển lương thực và quân lính giữa Gia Định-Huế-Hà Nội. 

Vào đầu thế kỷ XIX, hằng năm, hàng vạn người và khoảng 650 chiếc thuyền đã tham gia vào hệ thống này, tiêu tốn một phần lớn tiềm lực và ngân khố nhà nước.

Gia Long không thể có một phương án khác vì ông biết tình thế nan giải về địa, chính trị của mình. Vị vua này ý thức rằng trong con mắt của vùng châu thổ sông Hồng, ông chỉ là một phiên thần nơi biên viễn, phục tùng vị hoàng đế nhà Lê. Đáp lại, ông và các quan chức ở Huế lập luận rằng vận của nhà Lê đã hết. Họ Nguyễn giành lấy ngai vàng từ tay triều Tây Sơn tiếm ngụy chứ không phải nhà Lê.

Dù vậy, nhà vua tìm cách dung hòa bằng việc tổ chức lãnh thổ vừa chiếm được làm 3 phần, đặt dưới sự cai trị của 3 trung tâm quyền lực khác nhau. 

Từ Ninh Bình ra Bắc, ông giao cho viên tướng am hiểu chính trị nhất của mình là Nguyễn Văn Thành làm tổng trấn. Ông này có toàn quyền xử lí các công việc dưới địa hạt sau đó tấu báo về Huế. Tương tự, từ Bình Thuận vào Nam là chính quyền Gia Định thành. Huế thực chất chỉ kiểm soát dải miền Trung tương đối nghèo nàn so với hai châu thổ trù phú.

Sự phân tán này tồn tại trong suốt thời kỳ Gia Long và đầu Minh Mệnh. Tuy nhiên, nhà vua thứ hai có những tham vọng chính trị lớn lao về tập quyền hóa và thống nhất lãnh thổ. Ông tìm cách phá vỡ hệ thống tự trị của hai vùng châu thổ bằng cách sắp xếp lại hệ thống hành chính ở Bắc thành và Gia Định thành (1831-1832), thay thế toàn bộ các dinh trấn bằng cấp tỉnh.

Sự thay đổi này đặt nền móng cho tổ chức lãnh thổ và đơn vị hành chính của nước Việt Nam hiện đại. Ngay cả người Pháp sau này cũng dựa trên hệ thống phân cấp hành chính đó.

Tuy nhiên, sự sắp đặt này đã phải trả một giá đắt. Đó là thập niên chiến tranh và bạo lực xã hội (1826-1836) trải dài từ Bắc đến Nam, từ vùng biên giới Việt-Trung cho tới Campuchia, thu hút từ các nông dân làng xã ở châu thổ cho tới người dân tộc thiểu số.

Công cuộc cải cách hành chính của Minh Mệnh là một trong các nỗ lực lớn nhất của nhà nước tại Việt Nam thời tiền thực dân nhằm mở rộng ảnh hưởng xuống địa phương. Ông đã thiết kế lại Việt Nam của Gia Long bằng cách thu hồi quyền lực tự trị địa phương và vùng dân tộc thiểu số, thay bằng các quan chức do Huế bổ nhiệm.

Để thúc đẩy hệ thống hành chính và lãnh thổ mới này, nhà Nguyễn tạo ra một hình dung địa lý mới và không gian bản sắc mới cho Việt Nam.

Không phải ngẫu nhiên, chỉ một năm sau ngày thống nhất lãnh thổ, Gia Long yêu cầu Binh bộ Thượng thư Lê Quang Định tiến hành biên soạn Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, ghi chép chi tiết hệ thống đường sá và thông tin. Việc xây dựng hệ thống liên lạc và đồn lũy quân sự cũng giúp củng cố hình dung địa lý mới về nước Việt Nam. Mạng lưới này được mở rộng với hơn 150 dịch trạm chạy dọc theo đường Quan Lộ.

Phải mất nhiều thập niên, hệ thống đường sá, kênh đào mới được xác lập, tạo ra các mạng lưới kết nối không gian lãnh thổ Việt Nam. Đó chính là lúc ra đời các ý tưởng về một Việt Nam/ Đại Nam nhất thống chí và toàn đồ.

Các sách địa chí và bản đồ này sẽ góp phần tạo dựng nên bản sắc của thực thể chính trị Việt Nam. 

Vào những năm 1830, Việt Nam sẽ được mô tả như một đại quốc. Minh Mệnh tuyên bố vào năm 1838 rằng “nay bản triều có cả phương Nam, bờ cõi ngày càng rộng, một dải phía Đông đến tận biển Nam, vòng qua biển Tây, phàm là người có tóc có răng, đều thuộc vào trong đồ bản, bãi biển xó rừng khắp nơi theo về cả” (Đại Nam thực lục).

Cuối cùng, bài viết này gợi ý về các nỗ lực của Gia Long và Minh Mệnh trong việc tái cấu trúc lại Việt Nam bằng cách tiến hành các thử nghiệm hành chính và lãnh thổ nhằm xác lập quyền lực nhà nước. Dự án chính trị này cho phép chúng ta tìm kiếm những lí giải khác về sự phức tạp của mô hình lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX.

Xem xét sự sắp đặt của Gia Long và Minh Mệnh không chỉ giúp hiểu về sự đa dạng tộc người, thực hành văn hóa mà còn khuynh hướng mở rộng lãnh thổ, lí giải tại sao Việt Nam lại xuất hiện với hình hài ngày hôm nay và với các đặc trưng chính trị, xã hội, quan hệ vùng miền như nó đã diễn ra 2 thế kỷ qua.

Lịch sử Việt Nam và sự định hình bản sắc Việt Nam hiện đại sẽ không thể hiểu được nếu như không có góc nhìn tham chiếu với các sắp đặt lãnh thổ và hành chính này. Dĩ nhiên, điều này không có ý tuyệt đối hóa vai trò của Gia Long hay Minh Mệnh đối với cấu trúc và các đặc trưng của nền chính trị Việt Nam hiện đại.

Không phải tất cả chính sách của họ đều hoàn hảo và chúng ta không nên quên rằng để có được không gian Việt Nam, dân tộc Việt Nam và bản sắc Việt Nam như ngày hôm nay, không chỉ là sản phẩm dự án của người Việt mà còn là đóng góp, hội tụ tinh hoa và cả hy sinh mất mát của nhiều nhóm người khác nhau để tạo nên một Việt Nam thống nhất và đa dạng.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.