Giải mã Hát văn - Hầu bóng

Thực hành tín ngưỡng hầu bóng có những thay đổi lớn vào giai đoạn đô thị hóa đầu thế kỷ XX và sau đó bị "đóng băng" từ giai đoạn 1954 cho đến những năm 1990. Những mốc then chốt này rất quan trọng trong nghiên cứu và phân tích sự biến thân của thực hành tín ngưỡng, bởi những năm cuối thế kỷ trước được coi là điểm ngắt của "khuôn vàng thước ngọc" trong nghề hát văn và hầu bóng trước khi thực hành tín ngưỡng bùng nổ vào đầu những năm 2000.

Tiến sĩ Lê Y Linh đã ngược dòng quá khứ, giải mã những bí ẩn về một di sản mà hiện nay đang thịnh hành trong đời sống người Việt.

Hành trình 40 năm tìm về cung văn xưa

Trong cuốn sách gần 800 trang, "Phạm Văn Kiêm và trăm năm hầu bóng - nhạc - văn", Tiến sĩ Lê Y Linh đã đưa bạn đọc lần ngược thời gian tìm về âm nhạc hát văn và thực hành hầu bóng trước năm 1990. Hiểu về tín ngưỡng hầu bóng và nghệ thuật hát văn qua những miêu tả, chú giải, phân tích, tổng kết ngôn ngữ âm nhạc và cấu trúc nghi lễ, cung cấp những tư liệu khá đầy đủ về hát văn - hầu bóng qua những tư liệu mà cụ Phạm Văn Kiêm để lại.

Những tư liệu này được tham chiếu với những thông tin trong cộng đồng tín ngưỡng của hai nhà nghiên cứu Pierre-Jean Simon và Ida Simon-Barouh, cũng như một số học giả Pháp thu thập vào những năm 1950-1970 tại Pháp và Việt Nam. Từ đó cung cấp một cái nhìn chuẩn xác nhất trong tình trạng tư liệu hiện nay về nghi lễ hầu bóng trong gần một thế kỷ. 

nghi lễ hầu đồng ngày nay có nhiều biến tướng.jpg -1
Nghi lễ hầu đồng ngày nay có nhiều biến tướng (ảnh chỉ mang tính chất minh họa).

Trong gần 40 năm tác giả đã gặp, đàm đạo, trao đổi với nhiều đồng nghiệp, giáo sư, nhà nghiên cứu, đệ tử, cung văn... để hiểu về gia tài nhạc, văn và lễ Tứ phủ được tiền nhân để lại, từ đó công trình nghiên cứu góp phần giải mã về Tứ phủ và văn cho những người quan tâm, những nhà nghiên cứu, cho làng đạo và đệ tử, từ quy trình kiến tạo điện thần tới ngôn từ nhà đạo, từ cách hát, cách nhịp đến cấu trúc âm nhạc và nghi lễ của một buổi hầu. 

Đặc biệt, lần đầu tiên chúng ta có gần 100 bản văn của nghệ nhân Phạm Văn Kiêm sưu tầm và sáng tác từ năm 1945-1990, trong đó có hơn 60 bản được Ngô Nhật Tăng, Lê Phương Duy và Kim Trung Linh chú giải. Theo đồng thầy Nguyễn Văn Tài, cụ Kiêm là một trong 2 nhà Hán học giỏi nhất Hà thành những năm 1950-1960. Trong giới họ tôn cụ Kiêm là thánh sư. Các bài hát văn đang thực hành trong các đền đài hiện nay có đến 90% có sự trước tác của cụ Kiêm.

Theo Tiến sĩ Lê Y Linh: "Là trăm năm để hiểu sự khác nhau và tương đồng giữa những lễ hầu đồng trong bóng tối với một xâu đồng xu, một mâm bỏng gạo thời chiến tranh và những lễ lẫy lừng với hàng trăm mâm lộc và các thánh về phát lộc bằng ngoại tệ. Tôi muốn tìm mẫu số chung của các con số bốn phủ, muốn thấu đáo vai trò của bốn làn điệu cơ bản. Muốn đi tìm hành trình trăm năm của hầu bóng trên những chứng cứ, văn bản".  Có thể nói, "Phạm Văn Kiêm và trăm năm hầu bóng - nhạc - văn" là một độc bản của nghệ thuật hát văn và tín ngưỡng hầu bóng hiện nay. 

Cung văn xưa - nay, đâu là chuẩn mực?

Từ những năm đầu của thế kỷ XXI, nghi lễ hầu đồng đã hồi sinh trong đời sống tâm linh người Việt Nam hiện đại và việc "Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ của người Việt" được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại vào năm 2016 với hàng trăm công trình nghiên cứu, bài báo, bài khảo cứu, ấn phẩm, cùng các hoạt động quảng bá trong nước và nước ngoài, Tín ngưỡng hầu bóng đã phát triển lên một bình diện mới.  Trong tất cả các tín ngưỡng và phong tục thờ cúng của người Việt, chúng ta không thể không nói đến tín ngưỡng hầu bóng, mặc dù chưa có thống kê nào cho biết có bao nhiêu tín đồ. Tín ngưỡng hầu bóng có nhiều tên gọi: hầu bóng, lên đồng, nhập đồng, thờ Tứ phủ, Tam phủ, thờ Chư vị, Đạo Mẫu, Đạo Thánh... 

Nhưng, cũng từ năm 2000, thực hành tín ngưỡng này có rất nhiều biến tướng. Những thế hệ như cụ Kiêm, cụ Kỵ không có truyền nhân vì theo anh Ngô Nhật Tăng, các cụ không có học trò, mỗi người chỉ đến học vài ba bài rồi vội vàng đi hầu thánh để... kiếm tiền. Đồng thầy Nguyễn Văn Tài nhấn mạnh về vai trò của cung văn trong một vấn hầu: "Ngày xưa chỉ có 2 người, những đàn lớn lắm mới dùng trống cái. Lên đồng mà điểm trống cái mất đi tiếng đàn của các cụ, tiếng đàn để đẩy đưa câu văn rất có giá trị. Nhà đền phải trả lại tiền bởi có những đồng đá không mở được khăn. Những lão làng như cụ Kiêm, cụ Kỵ được nhà đền trọng vọng. Ngày xưa không có dám giả thánh, không hầu đồng 4-5 tiếng như bây giờ".

Theo bà Phạm Thị Lan Anh (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội), những biến tướng trong nghi lễ hầu đồng đang diễn ra khá phổ biến như không hiểu lời cũ hát chệch đi, "ngũ thổ" thành "ngũ hổ"... rồi biến tướng trong lời văn, âm nhạc. Các giá đồng cũng mở tùy tiện, trang phục không chuẩn, những người thực hành hát văn tam sao thất bản. Phải hát chuẩn, đúng, hay mới bảo tồn được di sản...".

cuốn sách về hát văn và hầu bóng.jpg -0
Cuốn sách về hát văn và hầu bóng.

Nhưng, làm sao hát chuẩn, hát hay khi hát văn là truyền miệng, có hai phần, phần lòng bản và ứng tác. Lòng bản chính là những bài hát văn của các thầy như cụ Kiêm, cụ Kỷ. Một cung văn giỏi phải hiểu mình hát cái gì. Nếu nhìn ở góc độ này thì di sản hát văn cũng cần bảo vệ khẩn cấp bởi những bài hát văn của các cụ lâu nay thất truyền. Phải thuộc lòng bản của các cụ rồi sẽ tự ứng tác theo cách của mình. Người hát văn phải chắc khuôn mới mở được.

Theo đồng văn Nguyễn Văn Tài: "Đã là hát văn hầu thánh phải linh thiêng. Có thể tổ chức các cuộc thi hát văn ở các khán phòng quy mô chứ không nên mang hát văn ra ngoài đường phố, chợ đêm. Hát văn được các cụ thể hiện là những ý văn cao quý nhất trong hầu thánh, văn thờ, không có loại hình nào mà lời văn cao quý hơn, nó không có tính chất thị trường. Các cụ xưa nói là dâng văn vì lời văn là dâng thánh".

Tiến sĩ Lê Y Linh cũng khẳng định: "Không có văn sẽ không có tín ngưỡng, không có nhạc sẽ chẳng còn văn. Đọc văn mà không được nghe nhạc thì cũng không thể hiểu, nghe nhạc mà không biết lễ thì cũng chả đến nơi. Người nghiên cứu như tôi chỉ kỳ vọng tìm được mật mã của nhà đạo, nhưng luôn luôn vẫn chỉ thấy mình như một "thầy bói xem voi". Tôi hy vọng rằng nó sẽ cung cấp những tư liệu, truyền đạt lại một phần những gì học được từ thầy, trao một vài chìa khóa để bạn đọc, nhà đạo và các nhà nghiên cứu tiếp tục con đường tìm hiểu Đạo Lớn".

Vì thế, có lẽ hơn lúc nào hết, hát văn - một thành tố quan trọng trong tín ngưỡng thờ mẫu Tam Phủ cần một cuộc chỉnh trang để đưa hát văn trở lại với những khuôn thước, bài bản chuẩn mực.

"Phạm Văn Kiêm và trăm năm hầu bóng - nhạc - văn" đặc biệt đã bao gồm những cuốn cổ văn, cảo thơm các cụ để lại, giúp lớp người sau hiểu được hơn giá trị những cuốn văn thầy Kiêm trao gửi, những bài văn hầu được thu âm trong nghi lễ. Trăm năm trong cõi hát văn và hầu bóng ấy để trước đèn lần giở ngược cảo thơm một thế kỷ về trước. Và, khi tìm được những cuốn văn cổ, phân tích các bản văn hầu, nghe văn thờ, so sánh giữa các nguồn, các bài... thì mới thật sự hiểu được: những bản văn thầy Phạm Văn Kiêm đã trao gửi cho tôi và được xuất bản lần này là một tài sản vô giá của làng đạo, của các nhà nghiên cứu, của tổ tiên, của đất nước", Tiến sĩ Lê Y Linh nói.

Cung văn xưa đã có, được số hóa và giải thích tường tận. Điều quan trọng là những người đang thực hành di sản có mong muốn học hỏi để tìm lại đúng giá trị của di sản hay không? Và, từ phía nhà nước, cũng cần có những cuộc "chỉnh trang" để di sản không bị biến tướng, mai một theo thời gian.

Việt Hà

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".