Nhà thơ Giang Nam: Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ

Có một thời, bạn đọc đón chờ những bài thơ từ chiến trường gửi ra của nhà thơ  Giang Nam với một tâm lý đặc biệt. Họ muốn được neo lòng mình vào cuộc chiến đấu chung của đồng bào, chiến sĩ miền Nam, muốn được vui buồn, thổn thức với những mảng hiện thực mà tác giả nhanh nhạy ghi lại từ cuộc chiến khốc liệt, một cuộc chiến có thể làm những trái tim chai sạn cũng phải trào dâng niềm thương xót bởi có quá nhiều gương mặt phụ nữ và trẻ em...

Nhà thơ Thế Lữ, một người vốn đã ngừng làm thơ từ lâu, trong một lần nghe thơ Giang Nam qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam cũng đã phải nghẹn ngào nhắn gửi: "Cất cao lời nữa/ Giang Nam ơi/ Tiếng thơ anh trào nước mắt tôi". Quả thực, có một thời, thơ Giang Nam đã thành "một kênh cảm xúc chủ yếu nối tình cảm đồng bào Nam Bắc" - như nhà thơ Vũ Quần Phương từng nhận xét.

Để làm được điều này tất nhiên không chỉ bởi tài thơ của Giang Nam. Hiện thực vĩ đại của cuộc chiến đã khiến có những tình tiết chỉ cần kể lên cũng đủ để người đọc xúc động, nhất là khi nó được "cộng hưởng" bởi cái không khí hừng hực muốn "nhập cuộc" của họ. Song cũng phải công tâm mà nói rằng, Giang Nam đã biết khai thác những tình tiết có thể đánh động trái tim nhiều người, những điều tưởng "rất thừa" mà "riêng trái tim mới hiểu" (chữ ông dùng trong bài "Hạnh phúc").

Đọc thơ Giang Nam những năm chiến tranh, ta thấy các nhân vật chính thường là trẻ em và phụ nữ. Có lẽ, với tác giả, đây là điểm "nhấn" để phơi lộ sự vô nhân đạo của kẻ thù cũng như cho thấy nét đẹp của cuộc kháng chiến toàn dân. Bài thơ "Lá thư thành phố" làm lời người vợ gửi cho chồng ở miền Đông đất đỏ có những câu nghe thật "thương thân tủi phận": "Con nhớ anh thường đêm biếng ngủ/ Nó khóc làm em cũng khóc theo/ Anh gửi về em manh áo cũ/ Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều". Tủi phận nhưng vẫn cho thấy cái tế nhị của người phụ nữ Việt Nam, dẫu nhớ chồng đến đâu vẫn phải mượn con để gửi gắm tình ý của mình. Cũng vậy, nhớ chồng, muốn lên với chồng mà phải nói vòng vo qua chuyện cái kim sợi chỉ: "Em biết anh không ngừng chiến đấu/ Muôn ngàn anh, chị ở bên anh/ Bao giờ em được lên trên ấy/ Vá áo cho anh, rách lại lành!".

Bài "Trước tờ giấy trắng" kể chuyện một người phụ nữ có chồng đi kháng chiến, bị địch bắt phải viết đơn "phản tỉnh", tức là phải từ chồng, phải nói xấu Cách mạng, nếu không muốn cả hai mẹ con bị đẩy vào nhà lao. Cuộc truy bức tinh thần diễn ra hết sức căng thẳng. Tác giả đã miêu tả cái ngột ngạt của cảnh trí tác động tới tâm lý con người qua những nét vẽ ấn tượng:

Chị ngồi trước tờ giấy trắng
Hàng giờ không viết một câu
Bóng cây ngắn dần theo nắng
Đàn trâu chậm chạp qua cầu. 

Mái tôn nóng bừng ngột ngạt
Trán con lấm tấm mồ hôi
Cổng đồn mấy tên lính gác
Đứng im như chết lâu rồi.

Dường như với Giang Nam, ở đâu có mẹ là ở đấy có con. Hai mẹ con luôn quấn quýt, no đói có nhau. Và có con là thêm lần thử thách sự vững vàng của người mẹ. Trong trường hợp này cũng vậy, hành động vô tình của đứa bé đã đánh thức một hướng suy nghĩ trong người mẹ: "Con bé nhay nhay vú mẹ/ Bàn tay nhỏ xíu mân mê/ Chúm chím môi hồng nở hé/ Chói chang nắng lửa trưa hè".

Người phụ nữ thấy day dứt. Ai nỡ để đứa con bé bỏng, đáng yêu nhường ấy phải chịu hệ lụy bởi sự cương cường của người lớn. Nhưng trong tình thế oái oăm, là phụ nữ, chị biết làm gì để bảo vệ con ngoài những giọt nước mắt: “Có gì cay cay trong mắt/ Có gì mằn mặn trên môi/ Không, không thể là nước mắt/ Cắn răng quyết giữ cuộc đời”.

Đang khi người phụ nữ chuẩn bị có một hành động dứt khoát thì những kỷ niệm xưa cũ hiện về trong tâm trí chị: "Vụt hiện những ngày kháng chiến/ Giành từng góc ruộng bờ ao/ Vụt hiện những ngày trên bến/ Vẫy khăn anh bước xuống tàu". Đến đây, mạch thơ có sự chuyển đổi. Câu thơ 6 chữ với nhịp thơ mạnh mẽ, dứt khoát đã được tác giả cho chuyển sang 7 chữ, rồi thu về 6 chữ, rồi bung ra tới 8 chữ để phản ảnh tâm trạng rối bời, đan xen giữa tình chung ý riêng, nỗi thương gần và nỗi lo xa, vừa không muốn làm tổn thương tình cảm với chồng, với kháng chiến, vừa muốn đứa con bé bỏng không rơi vào vòng khổ ải. Nhưng rồi, chị giật mình như "nghe thấy" sự không đồng tình từ cô con gái: "Đôi mắt con như hờn dỗi nghẹn ngào/ Con không nói nhưng chị nghe tiếng nói/ Có thể nào như thế được mẹ ơi" và cả từ người chồng trước hành động "phản tỉnh" của mình: "Thoáng bóng ai về bên cạnh chị/ Màu áo quen quen, mắt sáng ngời/ Da sém nắng, mặt buồn nghiêm nghị/ Có thể nào như thế được em ơi".

Chính những tiếng nói như phát ra từ tâm thức ấy đã đưa chị đi tới một hành động dứt khoát: Kiên quyết không chịu làm theo ý địch. Đây là hai câu kết của bài thơ:

Lũ quỉ ập vào dí súng bên hông
Chị vẫn ngồi nghiêm trước trang giấy trắng.

"Trước trang giấy trắng" là một bài thơ nổi tiếng của Giang Nam những năm đấu tranh thống nhất. Giá trị "dân vận" của nó là rõ rệt. Tiếc rằng, việc phá vỡ thế ổn định của thể thơ 6 chữ ở mấy khổ cuối đã khiến câu chữ trở nên lùa thùa, chất thơ toàn bài bị giảm sút đáng kể.

Bài thơ đầu tiên đưa tên tuổi Giang Nam ra với công chúng cả nước là bài "Quê hương". Đây cũng là bài thơ nổi tiếng nhất và có sức nặng nhất trong đời thơ của ông. Bài thơ từng được giải nhì của Báo Văn nghệ và được đưa vào sách học. Có một điều lạ không phải ai cũng biết là nguyên mẫu của bài thơ - "cô bé nhà bên/ có ai ngờ cũng vào du kích", sau bị giặc giết quăng mất xác ấy chính là người vợ hiền thục hiện vẫn sống bên nhà thơ. Về chuyện này, đích thân tác giả đã kể lại trong cuốn "Sống và viết ở chiến trường" như sau: "Đang ở căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hòa, tôi được Phó Bí thư Tỉnh ủy mời sang thông báo tin dữ: Vợ con tôi đã bị thủ tiêu trong nhà lao rồi (trước đó, vợ Giang Nam cùng cô con gái chưa đầy tuổi của ông bị địch bắt ở Thủ Đức và đưa vào giam ở nhà lao Chí Hòa, Sài Gòn - PK). Tôi nghe tin mà choáng váng như trời sập. Những kỷ niệm cũ, tình yêu e ấp, vụng dại, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt, cả hai mẹ con cô ấy đều khóc ròng… Tất cả như sống dậy xót xa, nhức nhối và rõ ràng cứ như mới xảy ra hôm qua.

Tôi đã viết bài thơ Quê hương trong tâm trạng đau đớn tột cùng ấy. Rồi tôi đã gửi bài thơ ấy theo đường giao liên ra cho Báo Thống Nhất ở Hà Nội. Khoảng tháng 8 năm 1961, trên đường công tác từ huyện Sơn Khánh đi Khánh Vĩnh, khi dừng chân ở một trạm nghỉ, tôi đã được nghe tin qua Đài Tiếng nói Việt Nam là bài thơ Quê hương của tôi được giải nhì Báo Văn nghệ. Tôi mừng run lên, báo ngay cho anh em cùng đoàn công tác. Tôi như thấy vợ con tôi ở bên kia thế giới về lại cùng tôi".

Không phải "như thấy" thôi đâu, mà là sự thật. Thì ra, thông tin vợ con Giang Nam chết trong nhà lao là không xác thực. Năm 1962, bà cùng con gái được thả và hai năm sau đó, cấp trên đã bố trí cho nhà thơ gặp mặt vợ con… Dẫu sao, từ một sự nhầm lẫn, Giang Nam đã có được một bài thơ để đời.

Các nhà nghiên cứu văn học thường liên hệ bài thơ "Quê hương" của Giang Nam với các bài "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan và "Núi đôi" của Vũ Cao. Cả ba bài thơ đều có chung mô típ: Các nhân vật nam chính đều đi bộ đội chiến đấu xa nhà; các nhân vật nữ chính (có thể là vợ, có thể là người yêu) thì ở lại chiến đấu hoặc công tác tại quê nhà và rồi tất cả đều ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ. Cả ba bài đều có sức hấp dẫn, lôi cuốn độc giả. Mặc dù "Quê hương" của Giang Nam không có những ý thâm thúy, những hình ảnh đặc sắc và khơi gợi như "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan, cũng không có giai điệu tinh tế, khoáng đạt như "Núi đôi" của Vũ Cao; song nó lại có cái duyên riêng và đặc biệt, mối tình của người nữ du kích với chàng trai trong bài thơ rất mộc mạc, hồn nhiên và có nét gần gũi, phổ biến trong đời sống. Điều đó khiến bài thơ càng dễ được quảng bá.

Đọc bài thơ, không ai là không nhớ tới tiếng cười khúc khích của cô gái, cũng như khó có thể quên được cái việc… khóc của cậu bé ở phần mở đầu bài thơ (Những ngày trốn học/ Đuổi bướm cầu ao/ Mẹ bắt được…/ Chưa đánh roi nào đã khóc!/ Có cô bé nhà bên/ Nhìn tôi cười khúc khích…). Đó chính là mấu chốt tạo nên sức ám ảnh của hình tượng, và là cái cớ để triển khai tứ thơ. Về đoạn thơ này, Hoài Thanh đã có lời bình rất tinh tế: "Khóc vì sợ đánh nhưng lại cũng vì muốn đánh vào tấm lòng của mẹ thương con mà người con rất biết".

Với bài thơ "Quê hương", Giang Nam đã xây dựng được những nhân vật cùng những tình huống rất đáng yêu. Chính điều này đã khiến độc giả hầu như không để ý (hoặc bỏ qua) cách sử dụng ngôn từ chưa phải đã thật kín kẽ của ông. Ví như khi ông viết: "Giặc bắn em rồi, quăng mất xác/ Chỉ vì em là du kích, em ơi", đã có người đặt câu hỏi: Nếu em là du kích thì giặc bắn em là lẽ đương nhiên, sao lại nói là "chỉ vì"? Hay khi ông viết "Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm", đã có người đặt vấn đề: Có nên để chữ "yêu" bên cạnh mấy chữ dễ bị suy diễn như chữ "chim" chữ "bướm" kia không? Tất nhiên, tôi không cực đoan đến mức cho Giang Nam viết vậy là "dung tục" (như một nhà thơ từng viết bài đăng báo "kết tội" vậy), bởi một khi ta đã nhập hồn vào bài thơ, cùng chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với nhân vật thì hẳn ta sẽ không có sự xét nét câu chữ thế ấy.

Sinh thời, nhà phê bình Hoài Thanh mặc dù thừa nhận Giang Nam có những bài thơ hay, song cũng phải nghiêm khắc nhắc nhở, là "ngòi bút của Giang Nam có khi quá dễ dãi". Ở đoạn kết bài "Quê hương", Giang Nam từng viết: "Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/ Có một phần xương thịt của em tôi", hai chữ "xương thịt" đặt ở đây có thể không khiến bạn đọc "gai gợn" bởi dẫu sao trước đó, nhà thơ đã làm ta xúc động trước cái chết của người nữ du kích không biết địch vất xác nơi đâu, nên cái cảm giác "trong từng nắm đất/ có một phần xương thịt của em tôi" là xuất phát từ đời thực, tuy nhiên, cũng hai chữ ấy mà nhà thơ đưa vào đoạn thơ sau (bài "Gửi miền Bắc") thì quả thực là không ổn, rất không ổn:

Hà Nội ơi, máu về tụ giữa tim
Tóc Bác có bạc nhiều những đêm không ngủ?
Giặc Mỹ liệu hồn: thịt xương ta đó.

Ưu điểm của thơ Giang Nam là có tình. Song ngoài tình thì thơ còn là nghệ thuật ngôn từ. Việc tác giả dùng từ ngữ thiếu chọn lọc trong một số trường hợp đã gây bất lợi cho việc thể hiện tình cảm của ông…

25/4/2011

P.K.

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".