Nhà phê bình văn học Hoài Thanh: Nỗi oan không khó gỡ

Không ai phủ nhận tài năng của nhà phê bình văn học Hoài Thanh. Thậm chí, đây đó đã có người suy tôn ông là thiên tài. Cuốn hợp tuyển "Thi nhân Việt Nam" của ông được nhiều người xếp vào hàng kiệt tác. Tuy nhiên, về mặt tư cách làm nghề, không phải không còn những ý kiến, nhận xét chưa được thỏa đáng về ông.

Nhà văn Từ Sơn, con trai trưởng của Hoài Thanh, trong bài "Lời cuối sách" in ở phần cuối cuốn "Thi nhân Việt Nam" (NXB Văn học, 1988) đã thuật lại: "Cha tôi khe khẽ đọc lại mấy câu "thơ chân dung" nói về ông mà ai đó đã đọc cho ông: Vị nghệ thuật một nửa đời/ Nửa đời còn lại vị người cấp trên/ "Thi nhân" còn một chút duyên/ Chẳng cầm cho vững lại lèn cho đau... Đọc xong, cha tôi bình: "Tay này nó biết mình mê Kiều nên nó dùng lối lẩy Kiều để vẽ chân dung thì khéo thật. Tuy vậy câu thứ hai nói oan và nói ác quá. Cha biết có không ít người nghĩ như thế về cha". 

Ngày 15 tháng 7 này là vừa chẵn 100 năm ngày sinh Hoài Thanh. Chắc chắn Hội Nhà văn sẽ tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa để vinh danh ông, song cứ theo thiển nghĩ của tôi, một trong những hành động có ý nghĩa nhất, là làm sao góp phần giải tỏa những "điều tiếng" về ông (có thể gọi là một "nỗi oan") hiện vẫn còn vương vất. Theo tôi, làm điều này không khó, bởi những gì Hoài Thanh viết vẫn còn rành rành trên giấy trắng mực đen...

Thật ra, nói Hoài Thanh "Nửa đời còn lại vị người cấp trên" là ai đó muốn xoáy vào việc ông có những bài phê bình, giới thiệu thơ của các tác giả giữ cương vị cao trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước thời kỳ sau Cách mạng. Tuy nhiên, để thật sòng phẳng, thiết nghĩ cũng cần phải nhắc lại là: Ngoài những tác giả có vị thế chính trị, Hoài Thanh còn dành nhiều thời gian, tâm sức để viết bài giới thiệu, phẩm bình thơ của cán bộ chiến sĩ, của các cây bút trẻ (như Giang Nam, Thanh Hải, Lê Anh Xuân, Lưu Quang Vũ, Cảnh Trà, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Đức Mậu, Lâm Thị Mỹ Dạ...).

Nói vậy để thấy, việc Hoài Thanh có viết về ai chăng nữa cũng không phải là điều đáng xét nét. Vấn đề là ông viết như thế nào, những ý kiến đánh giá của ông có xác đáng hay không, có nặng mùi "xu phụ", như thể một thứ "nô lệ trong văn chương" hay không?

Với những hiểu biết chắc chắn còn nhiều hạn chế của mình, tôi xin mạnh dạn có đôi lời bàn thêm về vấn đề này. Trong suy nghĩ của tôi, nếu vấn đề không được mổ xẻ một cách nghiêm túc thì chẳng những tên tuổi của Hoài Thanh ít nhiều bị ảnh hưởng, mà ngay cả tư chất của những tác giả giữ cương vị lãnh đạo có tác phẩm được Hoài Thanh đề cập cũng bị hiểu sai. Bởi như vậy có nghĩa là các vị chỉ thích nghe lời xu nịnh, không ưng lời nói thẳng. Mà theo tôi biết, ít nhất trong trường hợp này, sự thật không phải thế...

Tác giả đầu tiên mà tôi muốn đề cập là nhà thơ Sóng Hồng (tức đồng chí Trường Chinh, người từng giữ cương vị Tổng Bí thư của Đảng). Trong "Hoài Thanh toàn tập" (NXB Văn học ấn hành năm 1999), có hai bài Hoài Thanh viết riêng về thơ Sóng Hồng, đó là bài "Thơ Sóng Hồng" và bài "Đi họp: Một bài thơ hay" (cả hai bài đều được in ra vào đầu năm 1969). Tôi đã đọc kỹ hai bài viết này của Hoài Thanh và thấy những nhận xét của ông không có gì là "quá đáng", là "xu nịnh" cả.

Ngoài việc ca ngợi phẩm chất tâm hồn của một lãnh tụ cộng sản hết lòng vì sự nghiệp giải phóng dân tộc (tức là về mặt nội dung) thì về mặt nghệ thuật, lời lẽ của Hoài Thanh cũng tỏ ra chừng mực, khách quan. Như khi ông cất lời khen ngợi hai câu thơ mở đầu bài "Thăm Inđônêxia" của Sóng Hồng: "Hàng ngàn bích ngọc tuôn rơi/ Vương trên thảm lụa, ai người bỏ quên?" là "hai câu thơ rất bay bướm, rất duyên dáng" thì liền ngay đó, với hai câu "Ấy không, quần đảo thần tiên/ Nhấp nhô mặt biển ở bên chân trời", Hoài Thanh đã cho rằng "câu thơ của anh hơi thật thà" và ông đặt câu hỏi: "Có nhất thiết phải trả lời như vậy không". Nếu so với chất lượng một số câu thơ lục bát từng được chọn để thả lên trời trong Ngày thơ Việt Nam vừa qua, ta thấy lời nhận xét trên của Hoài Thanh thậm chí còn hơi... khe khắc là khác.

Cũng vẫn liên quan đến thơ Sóng Hồng, trong bài viết nói trên, Hoài Thanh còn trích một đoạn trong bài "Ngọn lửa Morixơn": "Hãy nghe đây:/ Trên cánh đồng bất mãn của nhân dân nước Mỹ/ Mỗi tia lửa đấu tranh đều đáng quý/ Chớ ngông cuồng xúc phạm tinh thần Morixơn" và cho rằng: "đó vẫn là chính luận, chưa phải là thơ". Từ đó, ông nhận xét chung về thơ Sóng Hồng: "về chữ dùng, câu thơ của anh cũng có khi hơi cứng".

Với nhà thơ Xuân Thủy, người từng giữ cương vị Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Hoài Thanh cũng có bài viết riêng ("Thơ Xuân Thủy"- Báo Văn nghệ số ra ngày 15/11/1974). Trong bài viết này, với những câu thơ mà mình tâm đắc, Hoài Thanh thường đưa ra nhận xét, đại thể: "thơ anh luôn ngọt ngào, đầm ấm, vui tươi". Đấy là ông nói về đặc điểm nội dung chứ đâu phải nói về đặc điểm nghệ thuật.

Còn khi bàn vào những câu thơ cụ thể, Hoài Thanh đã có những chỗ khen, nhưng cũng có chỗ ông buông lời... chê. Như khi Xuân Thủy viết: "Sông núi ôi xương máu/ Nhân dân ôi ngựa trâu" và "Ôi Lênin! Bộ óc thiên tài/ Im lặng tôi xin cáo biệt Người", Hoài Thanh đã không ngần ngại đưa ra nhận xét: "Những câu ấy, theo tôi, chưa nói hết được những điều nhà thơ muốn nói, chưa nói được cái đau xót, cái tủi cực ngày xưa, cũng chưa nói được tấm lòng kính phục không bờ bến đối với Lênin vĩ đại". Từ đó, Hoài Thanh có một nhận xét mang tính khái quát về ưu và khuyết của thơ Xuân Thủy: "Lời thơ Xuân Thủy thường dễ dàng. Đó là một ưu điểm. Nhưng cũng có khi quá dễ dàng thành dễ dãi". Phải nói, đây là một nhận xét rất thẳng thắn mà chỉ những người trung thực và trân trọng người đối thoại mới có được.

Một tác giả thơ từng giữ cương vị Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam (có thể xếp vào hàng "cấp trên" của Hoài Thanh) là nhà văn Nguyễn Đình Thi cũng được Hoài Thanh viết bài phân tích, bình luận tác phẩm ("Thơ Nguyễn Đình Thi" - Báo Văn nghệ số ra ngày 3/1/1976). Có thể thấy ngay là Hoài Thanh không thuộc fan hâm mộ thơ Nguyễn Đình Thi. Sau khi trích dẫn những câu mà ông tâm đắc, Hoài Thanh nhận xét: "Đọc thơ Nguyễn Đình Thi, có gặp nhưng rất ít cái lưu loát, cái hùng hồn, cái chất gợi sáng từng lúc trong một số bài lý luận phê bình, bài phát biểu của anh. Cũng ít gặp cái sức lôi cuốn say sưa trong những bài hát của anh từ lâu nổi tiếng. Người đọc thơ anh thường có cảm giác như nghe giọng nói từ từ của một người vừa trầm ngâm suy nghĩ vừa nói. Trước hết là nói với mình, nói cho mình. Cái hay là thật, nhưng cũng nhiều khi tuy thật mà chưa hay". Chắc không ai đọc những dòng này lại nghĩ Hoài Thanh viết vậy để "vị người cấp trên".  

Hẳn đọc đến đây, sẽ có bạn cho rằng tôi còn để thiếu một mảng bài, đó là mảng bài Hoài Thanh viết ca ngợi thơ Tố Hữu (người từng giữ cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ). Sự thật, với thơ Tố Hữu, Hoài Thanh có một tình cảm đặc biệt. Ông từng ghi lại trong sổ tay: "Tôi biết nhiều khi anh Tố Hữu không muốn tôi viết về thơ anh. Nhưng tôi cứ viết vì tôi viết đâu có phải vì anh...". Ông ý thức được rằng việc làm này của mình dễ bị những người thiếu thiện chí xem là "muốn nịnh hót gì đây. Nhưng tôi không ngại, tôi cứ bình theo đúng nhận thức và cảm xúc của tôi" (xem "Di bút và di cảo"- NXB Văn học, 1993). Chính vì vậy mà với tất cả các tập thơ Tố Hữu, Hoài Thanh đều có bài viết riêng. Hoài Thanh lấy làm tự hào là thời đại ta đã "may mắn có được nhà thơ Tố Hữu".

Các bài viết của Hoài Thanh về thơ Tố Hữu chủ yếu để phân tích, bình luận cái hay, cái xúc động... cho nên âm hưởng chính là ngợi ca, đó là chuyện đương nhiên. Vả chăng, việc ca ngợi thơ Tố Hữu là thuộc quan niệm thẩm mỹ của Hoài Thanh và quan niệm ấy cũng là quan niệm chung của đông đảo bạn đọc một thời nên không thể từ đó đặt vấn đề ông "vị người cấp trên" được.

Hoài Thanh là một nhà phê bình văn học có giọng văn điềm đạm, nho nhã. Cách chê của ông bao giờ cũng tinh tế chứ không sỗ sàng. Và trong quan điểm của ông, ông thiên về bình cái hay hơn là tìm cái dở. Trong lời "Nhỏ to" in ở cuối cuốn "Thi nhân Việt Nam ", ông chẳng đã viết: "nếu trong quyển này ít khi tôi nói đến cái dở, bạn hãy tin rằng không phải vì tôi không thấy cái dở. Nhưng tôi nghĩ rằng đã dở thì không tiêu biểu gì hết. Đặc sắc mỗi nhà thơ chỉ ở trong những bài thơ hay". Nói vậy để ta hiểu quan điểm nghệ thuật xuyên suốt của ông, từ đó bớt đi những đòi hỏi phi lý và cũng là để có cách nhìn chân xác về tư cách phê bình của ông.

Trên đây là một số suy nghĩ, nhận xét mà tôi đúc rút được sau khi đọc lại bộ "Hoài Thanh toàn tập" (gồm cả thảy 4 tập, dày hơn 4000 trang do NXB Văn học ấn hành cách đây đúng 10 năm). Có thể còn những tài liệu khác, thể hiện một tư chất khác của Hoài Thanh mà tôi chưa được biết, rất mong được bạn đọc chỉ giáo.

Riêng tôi, đến giờ phút này, căn cứ vào những gì tôi được biết thì Hoài Thanh là một nhà phê bình văn học trung thực, đúng như điều ông từng thổ lộ với người con trai trưởng: "Một đời làm văn cha chỉ tìm cái hay cái đẹp để bình. Đó là điều ham muốn của cha. Vậy mà cha đã vấp phải khối chuyện phiền: kẻ yêu, người ghét. Thậm chí cha còn bị vu cáo, bị nói oan. Cha biết vậy nhưng không thể sống khác, viết khác cái tạng của mình. Điều mà cha có thể hoàn toàn yên tâm và tự hào trước lúc đi xa là cha đã sống và viết hoàn toàn trung thực"

Phạm Khải

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".