Đi tìm câu hát Dá Hai

Chuyện “đi tìm” này khởi sự từ lúc tôi đọc cuốn tiểu thuyết “Biệt cánh chim trời” của nhà văn Cao Duy Sơn, xong rồi cứ bị mấy nhân vật trong sách ám ảnh mãi. Lão Lục Kin Khúng lỗi đạo. Con trai đi vắng, lão ngủ với con dâu, rồi từ đó biến gia đình thành địa ngục.

Hết con trai lão nghiện rượu đến con dâu lão nghiện rượu, uống quanh năm suốt tháng. Mà cứ hễ say, cô nàng lại mặc váy áo diêm dúa, vừa nhảy múa vừa hát những câu rất lạ, trong đó có từ “Dá… hà… hà… haiiiii” cứ kéo dài và lặp lại, khiến bà con ở lũng Cô Sầu (Trùng Khánh, Cao Bằng) được dịp bu đến trước cửa xem đông như kiến. Trong một lần vừa hát vừa đốt lửa nhảy múa, cô đốt rụi luôn cả ngôi nhà.

Tôi tò mò hỏi nhà văn Cao Duy Sơn, một người con của lũng Cô Sầu, rằng điệu hát đó là gì? “Là hát Dá Hai của người Tày ở Trùng Khánh Cao Bằng, mà chỉ ở đó mới có Dá Hai thôi”. Có hay không, hiện tại trên Trùng Khánh còn không? “Rất hay, mấy chục năm trước khá phổ biến ở xã Thông Huề, nhưng giờ thì không biết còn hay mất nữa…” Vậy là đủ lý do để chúng tôi làm một chuyến ngược lên miền biên ải Cao Bằng, đến Trùng Khánh. Đi tìm Dá Hai.

Cuối tháng 8 đầu tháng 9 năm 2016, nhằm tiết thu mát mẻ, chúng tôi xuất phát từ Hà Nội và có mặt tại Trùng Khánh lúc phố huyện bắt đầu nhập nhoạng tối. (Chúng tôi ở đây gồm người viết bài này, nhà văn Cao Duy Sơn, và nhóm làm phim thuộc Trung tâm truyền hình Nhân Dân). Bữa cơm tối Trùng Khánh tiếp đón chúng tôi khá đông người. Nhưng thật lạ, vì khi hỏi đến hát Dá Hai, không ai nói gì được cụ thể. Người thì: “không biết Dá Hai là cái gì?”. Người thì “trước kia có từng nghe nhưng không rõ bây giờ ở đâu trên đất Trùng Khánh này còn hát?”.

Người thì: “đâu như Thông Huề vẫn hát đấy, nhưng chẳng còn mấy ai nữa, chết hết cả rồi”… Công cuộc đi tìm Dá Hai nghe ra có cơ không dễ? Nhà văn Cao Duy Sơn nói với tôi: “Mình vẫn nhớ rõ, hồi những năm 1970, mình còn nhỏ đã được nghe hát Dá Hai ở Thông Huề. Họ có tới mấy đội cơ, thậm chí còn tổ chức thi hát với nhau rất vui. Không lẽ bây giờ lại ra thế này?”.

ngoc con.jpg -0
Trên đỉnh Ngọc Côn, Trùng Khánh, Cao Bằng. Ảnh: Trần Tú.

Muốn biết tình hình thật sự của hát Dá Hai là thế nào thì chỉ có cách là… đến Thông Huề. Xã Thông Huề có trung tâm là phố chợ Thông Huề, một kiểu phố chợ khá đặc trưng ở “vương quốc đá vôi” Cao Bằng này, với một dãy nhà chợ kéo dài suốt con đường núi, hai bên là nhà dân làm bằng đá xám lợp ngói âm dương, ngoài nhà mở cửa hàng làm ăn buôn bán. Chợ Thông Huề họp năm ngày một phiên, khá phong phú về hàng hóa và tấp nập người bán kẻ mua, cả người Thông Huề lẫn người các huyện lân cận.

Nhà văn Cao Duy Sơn ghé tai tôi thì thào: “Chợ Thông Huề là chợ thuộc vào loại lớn nhất ở miền Đông Cao Bằng này. Trước kia, đây còn là nơi tập kết cơm đen ghê gớm lắm. Giờ thì bị dẹp hết rồi”. Len lỏi đi giữa dòng người và hàng, chị phó chủ tịch xã Thông Huề đưa chúng tôi tìm đến tư gia của nghệ nhân Chung Văn Hần, người mà chị giới thiệu như là nòng cốt của phong trào hát Dá Hai ở Thông Huề mấy năm nay. Nhà ông Hần là một cửa hiệu tạp hóa bề thế chẳng kém mấy các cửa hiệu tạp hóa lớn ở dưới xuôi. Bản thân ông, dù đã ngoại bảy mươi, móm mém gần hết cả, song vẫn còn phảng phất cái phong độ của một “thượng lưu phố núi” lắm: người cao ráo, bộ quần áo hàng đũi phẳng phiu, tay thong thả phe phẩy chiếc quạt lụa.

Niềm nở pha trà, rót rượu mời chúng tôi, ông Chung Văn Hần kể: “Từ những năm 1960, tức là khi còn thanh niên, tôi đã tham gia hát Dá Hai ở đất Thông Huề này. Bố tôi, ông Chung Văn Trò, là người dạy cho tôi. Hồi ấy hát hò vui vẻ lắm, có đến mấy đội hát cùng lúc ở đây. Cứ thế kéo dài sang đến những năm 1970. Nhưng tới sự kiện biên giới phía Bắc năm 1979 thì chấm dứt, dứt hẳn. Cho đến khi có Nghị quyết V của Đại hội VIII thì lãnh đạo xã mới bắt đầu rục rịch bảo khôi phục. Thế là tôi cùng với mấy ông Nông Thành Tú, Hoàng Văn Rứ, toàn người ở đây cả, mới gọi thanh niên lại dạy cho các em các cháu nó hát. Từ bấy đến giờ chúng tôi cứ thủng thẳng mà dạy mà hát thôi”.

Nghe kể vậy, nhưng cho đến lúc này tôi vẫn chưa thật sự biết bản lai diện mục của Dá Hai là như thế nào? Nói với ông Chung Văn Hần, ông “à” rồi lấy điện thoại di động bấm gọi một lúc, lúc sau ông đứng lên dẫn chúng tôi đến một nhà khác, gần đầu chợ. Bước vào nhà, đã thấy ngồi chờ sẵn bên bàn nước hai người đàn ông Tày trạc lục tuần, trên tay mỗi người đều cầm một cây nhị bịt da rắn. Người còn lại là một cô gái Tày khoảng ngoài hai mươi tuổi, khá xinh xắn.

Ông Hần móm mém giới thiệu: “Hai ông này là Nông Thành Tú và Hoàng Văn Rứ, là những người cùng với tôi dạy Dá Hai cho lớp trẻ Thông Huề. Còn cháu này tên Mai, Nông Thị Mai, học trò của chúng tôi. Cháu nó học Dá Hai từ năm mười hai tuổi, năm nay hai mươi tư rồi. Nó lấy chồng và có con rồi”.

Màn giới thiệu nhân sự đã xong, màn Dá Hai tự giới thiệu bắt đầu. Hai cây nhị lên tiếng trước, dễ đến hơn một phút sau mới thấy ông Hần đứng dậy, thật thẳng người, và cất giọng hát. Đó là một điệu hát “vào tai” nhưng rất lạ, không giống với những thể loại đặc trưng của dân ca Tày mà tôi từng nghe qua, như then, sli, lượn, cọi, hay “Nàng ới”. Mà lạ nhất là các điệu bộ ông thể hiện trong lúc hát: khi thì như cung kính “ôm quyền thi lễ”, khi lại cúi đầu chìa tay như mời khách quý lâm môn…

Sau ông Hần là đến Mai. Cô hát say mê trong tiếng réo rắt của hai cây nhị, và quả thực, cô hát rất hay những điệu hát rất lạ, khiến chúng tôi cứ ngẩn ra mà nghe. Ông Hần ghé tai tôi nói nhỏ: “Hát Dá Hai khó lắm. Lên cao thì rất cao, xuống thấp lại rất thấp, cứ liên tục đổi hơi và luyến láy. Đã thế, làm sao cho người nghe phải khóc phải cười theo nội dung bài hát thì mới gọi là đạt yêu cầu. Học cái này mất thời gian lắm”.

phong nam.jpg -0
Mùa vàng. Ảnh: Đình Nguyễn.

Đến lúc ăn trưa, nâng chén rượu Thông Huề trong suốt trên tay, nhấp một hớp, nhà văn Cao Duy Sơn mới từ tốn kể chuyện, giúp tôi hóa giải cái cảm giác “là lạ” khi nghe hát Dá Hai lần đầu. Thì ra Dá Hai vốn xuất phát từ Trung Quốc. Nó là những làn điệu mà người ta hát lên trong lúc diễn “Mộc đầu hý”, tức một loại hình sân khấu múa rối với những con rối gỗ được con người điều khiển trên các ngón tay của mình.

Sang đến đất Trùng Khánh Cao Bằng, những làn điệu ấy được đồng bào Tày biến thành kịch hát, với kịch bản là những tích truyện đã rất nổi tiếng, như “Nam Kim Thị Đan”, “Tống Trân Cúc Hoa”, “Phạm Tải Ngọc Hoa”, “Mộc Lan Hoa tòng quân” v.v… Ông Chung Văn Hần làm các điệu bộ khi đang hát là bởi vậy. Đấy là điệu bộ của diễn viên nhập vai trên sân khấu, đấy là kiểu điệu bộ đã được kịch hóa. Vì thế nên trước đây người Trùng Khánh vẫn thường gọi là “tuồng Dá Hai”, chứ không gọi là “hát Dá Hai”. Và điều thú vị nữa, là cho đến bây giờ Dá Hai chỉ còn có ở Việt Nam thôi, bên Trung Quốc thì dường như tuyệt tích.

Vậy tại sao bây giờ Dá Hai chỉ thấy có “hát” mà không thấy có “tuồng”? Tôi đem sự thắc mắc ấy hỏi ông Chung Văn Hần, ông than: “Khó lắm. Chúng tôi đã cố gắng truyền nghề, dạy cho các em, các cháu nó hát thành thạo. Cũng định thành lập ít nhất một đội để có thể diễn được như xưa. Nhưng con trai đến lúc trưởng thành thì một nửa phải lo lao động sản xuất hoặc bỏ quê đi làm ăn xa, con gái thì líu ríu với chuyện lấy chồng sinh con, nên có bao giờ đủ diễn viên đâu. Ngay cả nhạc công cũng thế. Anh xem, để diễn tuồng Dá Hai, ngoài nhị là nhạc cụ chủ đạo, nếu đủ thì phải có cả trống, cả sáo, cả thanh la. Mà chúng tôi thì chẳng lấy đâu ra người ngoài mấy người chơi nhị. Nên đành chịu, dùng hát thay cho diễn. Mà cũng chỉ hát khi nào vào lễ vào hội, hoặc vào các dịp chợ phiên thôi”.

Vài ngày làm việc trôi qua. Bộ phim tài liệu về hát Dá Hai ở Trùng Khánh của chúng tôi rồi cũng thực hiện xong. Phim được kết bằng cảnh ba cô gái Tày ăn mặc rực rỡ đứng hát bên con thác Thoong Ma tung bọt trắng xóa. Lời hát thì hay và khung cảnh thì tuyệt đẹp, nhưng với tôi, hình như vẫn thấy thiếu một cái gì đó. Ấy chính là việc Dá Hai vẫn chưa được hoàn nguyên như những gì nó từng có ở đất Thông Huề Trùng Khánh, như những gì nó từng khiến cho bao thế hệ người Thông Huề Trùng Khánh phải say mê và giữ thật sâu trong kho ký ức của mình. Làm thế nào đây?

Hình như nếu chỉ là… nhân dân thì không thể trả lời được câu hỏi này. Nói vậy, hoàn toàn không phải sách vở, mà là sự thật. Nhân dân yêu Dá Hai thật đấy, nhưng nhân dân còn phải sấp ngửa lo cho miếng cơm manh áo hàng ngày của mình và gia đình, đâu dễ để cứ hễ kêu một tiếng là bỏ phắt đấy mà hát mà múa, mà gìn giữ với phát huy giá trị di sản. Trong khi, Trùng Khánh với thác Bản Dốc, với động Ngườm Ngao, với thiền viện Trúc Lâm đã và đang là điểm sáng trên bản đồ du lịch, thì tại sao chính quyền không tính tới chuyện tuồng Dá Hai cũng có thể là thứ “đặc sản” quyến dụ du khách, để mà đầu tư cho nó, để mà phục hưng nó?

Những ý nghĩ như thế cứ lan man trong đầu như cơn buồn ngủ trên xe, cứ vòng vèo như những khúc uốn lượn trên đèo Gió đèo Giàng. Cuối cùng thì chúng tôi cũng phải một lần nữa tạm biệt miền biên ải Cao Bằng. Mới đó, đã năm năm trôi qua...

Hoài Nam

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?