Đạo diễn Jan Svankmajer: Đánh thức hồn đồ vật

Những tiêu bản động vật cố trốn khỏi chiếc hộp kính của bảo tàng, những đồ đạc bắt trói chủ nhân rồi bỏ đi nghỉ mát, những con người cử động giật cục như con rối và những con rối cử động mượt như con người… Đó là vài vật dụng kỳ lạ được đạo diễn Jan Svankmajer đưa lên phim, để xây dựng một thế giới tưởng tượng thần kỳ và khôi hài, qua đó chất vấn cơn sốt tiêu thụ và sở hữu của xã hội hiện đại.

Mượn hồn của những giấc mơ…

Tọa lạc ở Knovíz, một ngôi làng nằm bên đồng cỏ và những cánh rừng thưa, studio của Jan Svankmajer trông như một bảo tàng trưng bày những con rối, mặt nạ và đồ gốm kỳ dị. Tại đây, cùng người vợ quá cố là họa sĩ Eva, ông đã tỉ mỉ làm những bộ phim nghệ thuật kết hợp diễn xuất của diễn viên với hoạt hình stop-motion và múa rối. Các kỹ thuật mà Svankmajer sử dụng, cùng chất kinh dị và hài hước đen trong phim của ông, đã truyền cảm hứng cho nhiều nghệ sĩ đời sau trên khắp thế giới như Tim Burton, anh em nhà Quay, hay Gekidan Inu Curry…

ảnh 02 - jan svankmajer.jpg -0

Cảm hứng đầu tiên mà họ tiếp nhận từ ông không phải là kỹ thuật hoạt hình, mà là phương pháp sáng tác của chủ nghĩa siêu thực. Ra đời với "Tuyên ngôn của chủ nghĩa siêu thực" (André Breton, 1924), phong trào tư tưởng này tiếp nhận quan điểm của nhà phân tâm học Sigmund Freud - rằng con người có khuynh hướng giấu những suy nghĩ mà mình không thể chấp nhận vào sâu trong vô thức. Ẩn mình trong bóng tối, những suy nghĩ bị chối bỏ này sẽ tiếp tục ám ảnh chủ nhân của chúng thông qua những ham muốn và cảm xúc thường ngày, những cử chỉ và lời nói vô ý, hay những hình ảnh tưởng tượng và giấc mơ.

Các nghệ sĩ siêu thực chủ trương nới lỏng sợi xích lý trí, để vô thức tự do lên tiếng thông qua trí tưởng tượng của mình, từ đó soi sáng những góc khuất của tâm hồn mà mình che giấu lâu nay, và tạo nên cái đẹp qua những phép ẩn dụ, hoán dụ đầy mơ mộng. Chẳng hạn, khi đạo diễn Luis Bunuel kể rằng mình từng mơ thấy một dải mây cắt qua mặt trăng như con dao lam cắt qua tròng mắt, họa sĩ Salvador Dali đã đáp lại bằng cách kể một giấc mơ khác: bầy kiến bò râm ran trên một bàn tay. Sau khi gộp hai giấc mơ này làm một, họ viết tiếp nó bằng bất cứ hình ảnh nào mà mình vô thức nghĩ ra - miễn là chúng khơi được cảm xúc và được cả hai người chấp thuận. Chuỗi hình ảnh đó đã tạo thành kịch bản của phim "Un Chien Andalou" (1929) - một câu chuyện về sự mù quáng và râm ran của dục vọng yêu đương. Nhóm Siêu thực Czech - do Vítezslav Nezval và Jindrich Honzl thành lập sau khi gặp Breton vào năm 1934 - đã biến Czech thành trung tâm thứ hai của chủ nghĩa siêu thực ở châu Âu, hầu như độc lập với nhánh siêu thực Pháp về mặt lý luận và phong cách.

Tham gia Nhóm Siêu thực Czech cùng vợ từ năm 1970, Jan Svankmajer đã áp dụng triệt để các phương pháp của chủ nghĩa siêu thực cho công việc sáng tác của mình. Thuở nhỏ, là một cậu bé biếng ăn, ông đã bị ép uống rượu chứa sắt để tăng cảm giác thèm ăn, và bị đưa đến các trại huấn luyện để vỗ béo. Nếu chấn thương tâm lý từ giai đoạn này ám ảnh ông suốt quãng đời còn lại, thì nó cũng trở thành đề tài của nhiều bộ phim, đồng thời biến việc làm phim thành quá trình tự trị liệu của ông. Hồi tưởng từng cơn ác mộng, và thả mình trôi theo dòng hình ảnh ma quái mà chúng sinh ra, ông đã làm nhiều bộ phim chế nhạo cơn cuồng ăn của một xã hội hiện đại tôn thờ vật chất.

Tuyển tập phim ngắn "Food" (1992) là một ví dụ tiêu biểu. Phim thứ nhất, mang tên "Bữa sáng", mô tả những người công nhân lần lượt biến thành robot phục vụ đồ ăn cho nhau, và người này ăn miếng xúc xích trong bụng người kia. Guồng máy sản xuất - tiêu thụ ấy không giúp ai no bụng,  chỉ giúp nó không ngừng vận hành và phình lớn nhờ những nô lệ người. Phim thứ hai, mang tên "Bữa trưa", mô tả một người nghèo bắt chước người giàu ăn sạch quần áo, bàn ghế, dao dĩa của mình, mà không biết rằng người giàu luôn giữ lại con dao để ăn thịt kẻ khác. Phim thứ ba, mang tên "Bữa tối", mô tả những kẻ phè phỡn tự ăn bộ phận gây ám ảnh nhất trên cơ thể mình, trong một bữa tối vô cùng kiểu cách, như thể họ đang tự thưởng thức một mảnh của cái Tôi… Dù những hình ảnh kỳ ảo này không có trong đời thực, mà chỉ có trong giấc mơ, chúng lại khắc họa chân thực cái chủ nghĩa tiêu thụ đang khiến đời sống trở nên tất bật và vô nghĩa.

…để đưa vào con rối gỗ

Để mô tả thế giới kỳ diệu trong mơ, Svankmajer đã cho diễn viên "diễn" chung với nhiều đồ vật - như những con rối, những đồ gia dụng, những bức tượng đất, hoặc những bộ xương… Chất liệu này cũng bắt nguồn từ tuổi thơ của vị đạo diễn sinh năm 1934 - người từng được tặng một rạp rối gỗ trong dịp giáng sinh, tương tự nhiều trẻ em Czech cùng thế hệ. Sau khi tốt nghiệp Khoa Múa rối thuộc Viện Nghệ thuật biểu diễn Praha, ông đã cùng nhiều nghệ sĩ khác đưa nghệ thuật múa rối truyền thống của Czech vào phim. Dù vậy, những con rối của Svankmajer và những người chịu của ảnh hưởng từ ông luôn có một nét đẹp riêng, mà nhiều nghệ sĩ khác không thể bắt chước.

ảnh 01 -cảnh trong phim dimensions of dialogue.jpg -0
Cảnh trong phim “Dimensions of Dialogue”.

Khi lên phim, chúng rất có hồn và gây ám ảnh. Trong cuốn "Điện ảnh hay con người tưởng tượng", nhà xã hội học Edgar Morin cho rằng cái hồn của phim đến từ cơ chế phóng chiếu. Nhà làm phim phóng chiếu cảm xúc của mình thành nhân vật, và khán giả nhận được cảm xúc đó khi "nhập vai" nhân vật, sống đời sống của nhân vật trên màn hình. Như vậy, cái hồn trong phim của Svankmajer không chỉ đến từ việc ông tự do phóng chiếu cảm xúc thành hình ảnh, thông qua một phương pháp gần với nằm mơ, mà còn đến từ tài thiết kế con rối của ông, sao cho những vật vô tri biến thành nhân vật có đời sống. Để làm việc đó, ông sưu tầm các đồ vật cũ, in đầy vết hằn của thời gian trên bề mặt. Mỗi đồ vật như vậy có một đời sống riêng: chúng đã sống với con người, để rồi thấm đẫm cảm xúc và lối sống của chủ nhân qua các dấu vết mà họ để lại.

Khi Švankmajer phóng chiếu cảm xúc của mình vào từng đồ vật có lối sống tương ứng, chúng sẽ sống trên phim. Chẳng hạn, trong "Historia Naturae" (1967), bằng cách mô tả những bộ xương, tiêu bản động vật và tranh ảnh giải phẫu cố thoát khỏi tủ kính của viện bảo tàng, ông đã mô tả một xã hội lý tính thủ tiêu sự sống, chỉ biết quy cả thiên nhiên lẫn con người ra các khái niệm và các con số sinh lợi. Trong "Jaberwocky" (1971), ông đã mô tả bi kịch của một đứa bé khá giả qua một căn phòng đầy ắp đồ chơi. Nếu mọi món đồ chơi phức tạp - như những con búp bê rỗng tuếch mặc đồ đắt tiền hay đoàn lính chì vô hồn lăm lăm vũ khí - chỉ nhăm nhe đồng hóa em bé với một thế giới người lớn của kỷ luật chiến tranh và thói học đòi tiêu tiền, thì cây bút của bé chỉ muốn vẽ bậy lên tất cả, để rồi thoát khỏi căn phòng và đi chơi trên đường phố.

Khi đã phóng chiếu cảm xúc của con người lên những con rối, Svankmajer dùng vẻ cứng nhắc, vô cảm của con rối để biểu đạt tình trạng vật hóa của con người. Chẳng hạn, trong "Faust" (1994), nhân vật chính dần bị biến thành con rối gỗ điều khiển bằng dây sau mỗi lần nhận sự giúp đỡ của quỷ. Đặc biệt, vì cả ác quỷ lẫn thiên thần đều là con rối, người xem thấy rõ sự máy móc của các hệ thống ở cả hai bên chính-tà. Bằng thủ pháp tương tự, phim "Picnic with Weissmann" (1968) mô tả một xã hội mà vật chất lên ngôi, thông qua cảnh các đồ vật bắt trói chủ nhân để thay chủ nhân đi nghỉ mát.

Những con rối được thiết kế linh hoạt cũng giúp Svankmajer khắc họa chiều sâu của tâm lý con người. Trong "Dimensions of Dialogue" (1982), ông đã xếp các đồ vật tạo nên thế giới riêng của một người - như đồ văn phòng phẩm, đồ làm bếp hoặc rau củ - thành bức chân dung của người đó. Khi một người-làm-bếp và một người-rau-củ đối thoại, những đồ vật này liên tục nghiền nhau cho đến khi chúng nát thành bột, và tạo nên hai hình nhân bột giống hệt nhau. Tương tự phân tâm học Lacan, bộ phim đã đánh tan ảo tưởng về sự thống nhất của cái Tôi con người, và chỉ ra cách ngôn ngữ định hình những cái Tôi phân mảnh.

Khi con người bật cười trước những con rối mô tả tình trạng máy hóa của họ, họ được tự do trong chốc lát khỏi trật tự máy móc mà họ từng tưởng là trật tự tự nhiên. Đây chính là bản chất của phong cách hài đen mà Jan Svankmajer, cùng các nghệ sĩ kế thừa ông, đang sử dụng. 

Nguyễn Vũ Hiệp

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?