Cuộc chiến thuế quan: Tìm kiếm mức thuế hợp lý

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại leo thang, thuế quan trở thành công cụ chính trị và kinh tế được nhiều quốc gia sử dụng. Tuy nhiên, việc xác định mức thuế hợp lý không chỉ phụ thuộc vào mục tiêu bảo hộ mà còn cần cân nhắc nguyên lý kinh tế cơ bản, như đường cong Laffer.

Nguyên lý đường cong Laffer

Người ta kể rằng, cuộc cách mạng thuế của Tổng thống Ronald Reagan với việc cắt giảm thuế thu nhập cao nhất của Mỹ từ 70% xuống 26% vào năm 1981 bắt đầu tại một nhà hàng ở Washington, khi nhà kinh tế học Arthur Laffer vẽ đường cong mang tên mình trên khăn ăn cho Phó Chánh văn phòng Nhà Trắng khi đó là ông Dick Cheney, cố vấn thân cận của tổng thống. Trong bức vẽ đơn giản đó, nhà kinh tế học Laffer đã miêu tả mối liên hệ giữa thuế suất và mức thu ngân sách của chính phủ.

Cuộc chiến thuế quan: Tìm kiếm mức thuế hợp lý -0
Thuế quan sẽ khiến cả hai nền kinh tế lớn nhất thế giới thiệt hại.

Ở tình trạng thuế suất bằng 0, chính phủ không có doanh thu thuế, nhưng cũng không có doanh thu ở mức thuế suất 100%, vì nền kinh tế sẽ đóng cửa. Ở đâu đó giữa hai mức thuế suất này, có một mức thuế suất tạo ra doanh thu tối đa. Màn minh hoạ đó đã tạo nên một trong những cuộc cải cách thuế lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ với hai đạo luật thuế lớn vào năm 1981 và 1986 dưới thời tổng thống Reagan mở ra một thời kỳ thịnh vượng cho kinh tế Mỹ.

Được giới thiệu từ năm 1974, đường cong Laffer dựa trên hai hiệu ứng cơ bản. Hiệu ứng số học cho thấy việc giảm thuế suất trực tiếp làm giảm doanh thu nhưng đồng thời hiệu ứng kinh tế thì khẳng định: thuế thấp kích thích hoạt động sản xuất, mở rộng cơ sở thuế, từ đó tăng doanh thu dài hạn. Những người tin tưởng lý thuyết của Laffer được coi là những người theo đuổi trường phái "Kinh tế trọng cung", chủ trương giảm thuế, giảm can thiệp của chính phủ để tự do kinh doanh kéo theo tăng trưởng lâu dài.

Ứng dụng trong lĩnh vực thuế quan, Laffer cho rằng thuế quan cũng là một loại thuế và có thể được sử dụng để điều chỉnh dòng vốn theo mục tiêu đề ra. Một tính toán hợp lý là thuế quan trong phạm vi 10% đến 15% sẽ mang lại một lượng doanh thu có ý nghĩa mà không gây gián đoạn quá mức cho hoạt động kinh tế. Dĩ nhiên, thuế quan sẽ kèm theo nhiều tác động: người tiêu dùng và doanh nghiệp sẽ phải chịu giá nhập khẩu cao hơn nhưng một số nhà xuất khẩu sẽ xây dựng nhà máy tại chỗ để tránh thuế quan.

Ngược lại, nếu thuế quá cao, hành vi trốn thuế, chuyển hướng thương mại hoặc giảm tiêu dùng sẽ làm sụt giảm doanh thu. Ví dụ, nghiên cứu của Trabandt và Uhlig thực hiện năm 2011 ước tính điểm tối đa hóa doanh thu cho thuế thu nhập ở Mỹ và châu Âu khoảng 70%, nhưng với thuế quan, ngưỡng này có thể thấp hơn do tính nhạy cảm của thương mại . 

Thực tiễn từ cuộc chiến thuế quan

Là một tín đồ của Laffer, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng lý thuyết của ông để xây dựng chính sách kinh tế ngày từ nhiệm kỳ đầu tiên giai đoạn 2016-2021 và thu được những kết quả ấn tượng. Với việc giảm thuế, giảm quy định hành chính, bảo hộ sản xuất, ông Trump đã giúp kinh tế Mỹ tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2017-2019 và giữ tỷ lệ thất nghiệp thấp. Trong nhiệm kỳ thứ hai của mình, với mục tiêu hướng đến là tăng nguồn thu chính phủ và kéo sản xuất về nước Mỹ, ông Trump đã thực hiện thêm công cụ thuế quan.

Từ tháng 1/2025, chính quyền của ông Trump tuyên bố sẽ áp dụng chính sách "thuế quan có đi có lại", tăng thuế lên 20% với hàng Trung Quốc nhập khẩu và mở rộng sang nhiều quốc gia. Tuy nhiên khi những lợi ích chưa được công nhận thì hậu quả đã hiện lên sớm. Một báo cáo khảo sát công bố đầu tháng 4/2025 cho thấy niềm tin tiêu dùng Mỹ xuống thấp nhất trong 12 năm, trong đó ngành xa xỉ sụt giảm 50 triệu khách hàng trên toàn cầu. Hiện tượng này là do thuế cao đã khiến giá hàng nhập khẩu tăng, người tiêu dùng chuyển sang hàng cũ, hàng giá rẻ để hạn chế chi tiêu. Theo GlobalData, 59% người Mỹ chọn mua đồ cũ nếu giá mới tăng. Điều này cho thấy khi thuế vượt ngưỡng chịu đựng, làm co hẹp cơ sở thuế.

Một nghiên cứu khác của Tax Foundation (tổ chức chuyên nghiên cứu về chính sách thuế và tài khoá) năm 2024 đã chỉ ra rằng các nước EU như Đức và Tây Ban Nha đã đạt ngưỡng thuế tối đa. Khi tăng thuế thêm 1%, doanh thu chỉ tăng 0,2% do hành vi trốn thuế và giảm đầu tư tăng lên. Điều này phản ánh rõ nguyên lý đường cong Laffer: vượt điểm tối ưu, tăng thuế chỉ làm giảm doanh thu. 

Trong những động thái gần đây, khi chính phủ của ông Trump tiếp tục công bố "Thuế đối ứng" với các quốc gia nhập khẩu vào Mỹ hôm 2/4/2025, những con số đưa ra đã gây nhiều tranh cãi. Như với trường hợp Mỹ cáo buộc Việt Nam áp thuế 90% lên hàng hoá Mỹ khiến cho Mỹ phải trả đũa thì số liệu từ Văn phòng đại diện Thương mại Mỹ cho thấy thuế theo tiêu chuẩn  "Tối huệ quốc" (MFN) trung bình của Việt Nam chỉ 9,4%, và không có dòng thuế nào đạt 90%. Con số 90% là tổng hợp các loại thuế gián thu được thực hiện trong nước (VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt).

Các loại thuế này được tính chung cho tất cả các mặt hàng tương tự bán trên thị trường nên theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) sẽ không được tính là thuế quan. Sự "hiểu lầm" này khiến cho người ta nghi ngờ chính quyền của ông Trump đã không sử dụng thuế quan như một công cụ kinh tế đơn thuần.

Yếu tố nào quyết định mức thuế hợp lý ?

Đường cong Laffer chỉ ra có một điểm tối ưu (T*) để cân bằng giữa mức thuế và nguồn thu tối đa nhưng có nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng tới điểm tối ưu đó. Một trong những yếu tố căn bản được gọi là "độ co giãn của nhu cầu". Theo đó hàng hóa có độ co giãn cầu thấp, có thể hiểu là bắt buộc phải sử dụng như lương thực hay thép trong công nghiệp sẽ chịu thuế tốt hơn hàng xa xỉ, không thiết yếu.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu rộng mở hiện nay, doanh nghiệp và người tiêu dùng cũng sẽ có nhiều lựa chọn hơn so với chính phủ khiến cho thuế quan khó đem lại hiệu quả hơn. Theo tiến sĩ Sheng Lu đến từ Đại học Delaware: "Thuế quan cao sẽ đẩy người tiêu dùng sang thị trường nước ngoài". Ví dụ, người Trung Quốc từng lên cơn sốt sắng mua hàng hiệu ở châu Âu để tránh thuế nội địa. Các doanh nghiệp cũng dễ dàng nhận được ưu đãi ở các nước khác hơn để bù đắp áp lực thuế trong nước.

Nghiên cứu của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) năm 2002 chỉ ra: nếu tổng chi phí nhập khẩu vượt 30-40% giá trị hàng hóa, doanh nghiệp có xu hướng tìm nguồn cung thay thế tức là rời bỏ thị trường. Do đó, mức thuế đặt ra luôn cần tính toán cẩn thận để đảm bảo không làm mất lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm nội địa. Những yếu tố nghịch đảo này cũng là lý do người ta thường chỉ trích nhà kinh tế Arthur Laffer vì cho rằng lý thuyết của ông đã "đơn giản hoá" mọi thứ.

Cuộc chiến thuế quan: Tìm kiếm mức thuế hợp lý -0
Đường cong Laffer trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

Tìm điểm cân bằng

Dựa trên những yếu tố trên, chúng ta thấy, khi mức thuế không còn hợp lý nữa thì thay vì tăng nguồn thu, kích thích thị trường nội địa thì có thể dẫn đến việc rời bỏ thị trường. Chính vì vậy, Tax Foundation khuyến cáo nên sử dụng hệ thống thuế đơn giản, ít biệt lệ để giúp tăng hiệu quả thu ngân sách. Ví dụ, Estonia duy trì thuế doanh nghiệp 20% nhưng mở rộng cơ sở thuế, giúp doanh thu ổn định dù thuế suất thấp.

Ngược lại, các chính phủ thay vì chỉ dựa vào thuế, có thể áp dụng hạn ngạch, trợ cấp có điều kiện hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật. Ví dụ, EU kiểm soát hàng nhập khẩu qua quy định an toàn thực phẩm, vừa bảo vệ người tiêu dùng vừa tránh xung đột thương mại. Trong trường hợp thuế quan trở thành rào cản thì đàm phán đa phương nên là phương án ưu tiên để giúp cùng nhau xóa bỏ.

Trong quá khứ, WTO đã giúp kinh tế toàn cầu tăng trường thêm từ 1-3%/năm trong giai đoạn 1995-2022. Những hiệp định thương mại khu vực mới như CPTPP và RCEP hướng đến giảm thuế quan trong khuôn khổ đa phương giúp tăng thương mại 15-20%/năm, đồng thời tránh chiến tranh thương mại gây thiệt hại cho cả hai.

Dựa trên những yếu tố trên, chúng ta thấy rằng  "thuế cao không phải lúc nào cũng tốt". Mức thuế quan tối ưu phụ thuộc vào đặc điểm ngành hàng, độ co giãn cầu và bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Bài học từ Mỹ, EU và Việt Nam cho thấy: thay vì đơn phương áp thuế, cần kết hợp cải cách thuế, đàm phán đa phương và công cụ phi thuế để đạt mục tiêu bảo hộ mà không hy sinh tăng trưởng. Như chính Arthur Laffer từng nói: "Chính phủ không thể vắt kiệt con gà đẻ trứng vàng", đây có lẽ là bài học lớn nhất mà những nhà làm chính sách cần lưu ý trong giai đoạn nhạy cảm hiện nay. Tất nhiên, điều này sẽ bị bỏ qua nếu chính phủ sử dụng thuế như một công cụ chính trị.

Tử Uyên

Các tin khác

Eo biển đóng và khe cửa mở hờ

Eo biển đóng và khe cửa mở hờ

Trong khi dư luận quốc tế còn đang cố gắng tìm lời giải cho việc Nhà Trắng tuyên bố tạm dừng chiến dịch quân sự "Dự án Tự do" nhằm hỗ trợ tàu thuyền di chuyển qua eo biển Hormuz - động thái bất ngờ kế tiếp, nhưng không còn làm mấy ai ngạc nhiên, trong chuỗi vô tận những diễn biến không thể lường trước từ Tổng thống Mỹ Donald Trump - thì dường như, qua một số thông tin bên lề được hé lộ, "chân tướng" của sự thực cũng đã lờ mờ hiện lên, sau lớp hỏa mù.

Nhịp sống Việt Nam

Nhịp sống Việt Nam

Những ngày gần đây, báo chí và mạng xã hội ở xứ Kim Chi cũng như Việt Nam vẫn dành sự quan tâm về chuyến thăm Việt Nam cuối tháng 4/2026 của Tổng thống Hàn Quốc Lee Jae Myung và Phu nhân Kim Hae Kyung. Đặc biệt, hình ảnh vợ chồng tổng thống thảnh thơi bách bộ phố cổ Hà Nội và thưởng thức món phở, cơm rang, kem... nhận được sự tán thưởng hào hứng của người dân cũng như cộng đồng mạng ở cả hai nước.

Trung Đông, trong những đám hỏa mù

Trung Đông, trong những đám hỏa mù

Giới quan sát quốc tế có lẽ đã quá quen với việc bình tĩnh chờ đợi thêm những dữ liệu đối chứng cần thiết, cho dù vừa thấy bảng tin tức của mình nhảy lên những điều có vẻ “nóng bỏng”, nhất là sau hàng tuần nối nhau, những tuyên bố trái chiều vẫn cứ tiếp tục vọng đến từ Trung Đông. Tuy vậy, khi không quá tập trung vào các điểm nóng chiến sự, có thể, những tia sáng mờ nhạt nào đó lại le lói hắt lên.

Giá trị của Hòa bình

Giá trị của Hòa bình

LTS: Những ngày cuối tháng Tư luôn đặc biệt đối với người Việt. Đó là dịp Tết Thống nhất, Tết Hòa bình. Năm nay, dịp Tết ấy đến ngay sau Giỗ tổ Hùng Vương, với lời nhắc của Bác Hồ vẫn mãi sáng ngời chân lý "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước…".

Nhiều “nút thắt” trong đối đầu Mỹ-Iran

Nhiều “nút thắt” trong đối đầu Mỹ-Iran

Trung tuần tháng 4/2026, các kênh ngoại giao Mỹ - Iran được kích hoạt ở mức cao hiếm thấy, Pakistan trở thành đối tác trung gian then chốt. Truyền thông phương Tây và khu vực nhắc tới khả năng có thỏa thuận xoay quanh trao đổi hạn chế hạt nhân để lấy nới lỏng trừng phạt và tiếp cận tài sản bị phong tỏa.

Kinh tế thế giới trở thành con tin của cuộc xung đột Iran

Kinh tế thế giới trở thành con tin của cuộc xung đột Iran

Cuộc xung đột quân sự tại Iran bùng nổ từ cuối tháng 2/2026 đang khiến nền kinh tế toàn cầu trải qua cú sốc năng lượng lớn chưa từng có trong lịch sử hiện đại. Giá dầu tăng vọt, lạm phát khiến cỗ máy kinh tế toàn cầu khựng lại. Những hệ lụy kéo theo sẽ còn tác động lâu dài đến cuộc sống của chúng ta. Một lần nữa, nền kinh tế toàn cầu lại trở thành con tin của các quyết sách chính trị.

Hai vòng phong tỏa, một điểm nghẽn

Hai vòng phong tỏa, một điểm nghẽn

Nỗ lực hạ nhiệt căng thẳng Mỹ - Iran thông qua đàm phán trực tiếp đang rơi vào bế tắc khi hai bên theo đuổi logic hoàn toàn trái ngược: Washington muốn một thỏa thuận nhanh dưới sức ép tối đa, còn Tehran kiên trì chiến lược kéo dài để bảo toàn lợi ích cốt lõi. Sự lệch pha này khiến tiến trình ngoại giao đình trệ, đồng thời gia tăng rủi ro tại eo biển Hormuz - huyết mạch năng lượng toàn cầu.

"Tang đạo mãn điền, hoa mãn san"

"Tang đạo mãn điền, hoa mãn san"

Chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Trung Quốc đã thành công rất tốt đẹp. Đó là một chuyến thăm dày đặc lịch hoạt động, tận dụng tối đa từng giờ để vun đắp, củng cố mối quan hệ sâu sắc giữa hai nước, đồng thời tìm hiểu thực tế, tham khảo các mô hình phát triển hiệu quả. Điều đặc biệt, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc chuyến thăm và trở lại Việt Nam bằng tàu hỏa như một thông điệp: quan hệ Việt Nam – Trung Quốc ngày càng hữu nghị, hợp tác, là sự kết nối liền mạch, là dòng chảy không thể đảo ngược, vì hòa bình và hạnh phúc, phồn vinh của nhân dân hai nước. Đó cũng là bức tranh thái bình, trù phú, an yên mà Bác Hồ kính yêu đã khắc họa 65 năm trước “Tang đạo mãn điền, hoa mãn san”...

Nạn nhân tiềm tàng của xung đột Trung Đông

Nạn nhân tiềm tàng của xung đột Trung Đông

Trung tuần tháng 3/2026, các cuộc không kích của Israel nhằm vào những cơ sở năng lượng thượng nguồn tại mỏ khí South Pars, nơi chiếm 70% sản lượng khí đốt nội địa của Iran, đã mở ra một chương leo thang mới trong xung đột Trung Đông.

Ở rất xa cuộc chiến

Ở rất xa cuộc chiến

Thời điểm hiện tại, chiến dịch quân sự tại Trung Đông là ưu tiên hàng đầu của Tổng thống Mỹ Donald Trump. Song, có lẽ, chuyện ông liên tục cập nhật các diễn biến và ý tưởng của mình về cuộc chiến ấy và làm xôn xao các nền tảng mạng xã hội cũng không thể đẩy lùi được một thời hạn đầy thách thức: Tháng 11/2026, cuộc bầu cử Quốc hội giữa kỳ sẽ diễn ra.

Khủng hoảng an ninh lương thực đang chực chờ

Khủng hoảng an ninh lương thực đang chực chờ

Sự hỗn loạn trong đại dương thông tin chiến sự đang khiến bất kỳ một nhà phân tích quốc tế nào cũng không thể đưa ra những dự báo chắc chắn về kết cục của cuộc xung đột quân sự ở Trung Đông. Tuy nhiên, những hệ lụy ghê gớm của nó thì ngược lại, hoàn toàn có thể dễ dàng nhận diện.

Lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết

Lợi ích quốc gia - dân tộc trên hết

Trong những ngày này, tâm trí của người dân cả nước và cả Việt kiều ở nước ngoài đều hướng về phòng họp lớn Diên Hồng, nơi đang diễn ra kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XVI.

Ứng xử với xưa cũ

Ứng xử với xưa cũ

LTS: Những gì cổ hủ, lạc hậu ắt là xưa cũ. Nhưng có phải những gì xưa cũ cũng đều cổ hủ, lạc hậu hết hay không? Ứng xử với xưa cũ thế nào để đảm bảo vẫn giữ tốc độ tăng trưởng tiến bộ và vừa không “đánh rơi” đi mất phần tinh thần?

Lựa chọn hiền tài và kiến tạo phát triển

Lựa chọn hiền tài và kiến tạo phát triển

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI vừa khai mạc tại Thủ đô Hà Nội với nhiều nội dung quan trọng, đặc biệt là việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt của quốc gia cũng như định hình chương trình, nội dung hoạt động của toàn khóa, đặt nền móng cho sự phát triển của đất nước trong 5 năm tới.

World Cup 2026 trước biến số Iran

World Cup 2026 trước biến số Iran

Xung đột leo thang giữa Mỹ - Israel và Iran đang đẩy World Cup 2026 vào tình thế đặc biệt khi khả năng Iran không thể tham dự trở thành kịch bản hiện hữu. FIFA đang phải đối mặt với bài toán phức tạp chưa từng có liên quan đến pháp lý, thay thế suất dự giải và đảm bảo an ninh - điều từng xuất hiện trong lịch sử nhưng chưa bao giờ ở quy mô của một kỳ World Cup hiện đại.

Khi Thổ Nhĩ Kỳ có quyền “mặc cả” với châu Âu

Khi Thổ Nhĩ Kỳ có quyền “mặc cả” với châu Âu

Cuộc chiến tại Iran nổ ra cuối tháng 2/2026 làm rung chuyển thế giới, đồng thời vẽ lại bản đồ địa chính trị khu vực. Trong đó, Thổ Nhĩ Kỳ, với vị thế đặc biệt của mình, đang tận dụng cơ hội để giành lấy lợi thế trong một "ván cờ" khác.

Trước biến động thời cuộc

Trước biến động thời cuộc

LTS: Sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo; những diễn biến bất thường về địa chính trị; các quyết định áp đặt thuế quan gây shock; giá cả nhiên liệu thay đổi đột biến dẫn tới biến động mạnh ở các thị trường v.v... và vv… Thế giới đang tiếp tục theo cách đó và tạo ra những vòng xoáy chóng mặt. Trước các biến động thời cuộc như thế, một cá nhân con người, một công ty, một ngành, thậm chí cả một quốc gia, cần phải đối diện chúng theo cách nào?

Lời hứa không thành hiện thực

Lời hứa không thành hiện thực

Ông Donald Trump trở lại Nhà Trắng với cam kết không mở thêm chiến tranh, không đẩy nước Mỹ vào những cuộc can dự quân sự tốn kém ở bên ngoài. Nhưng, chiến dịch quân sự nhằm vào Iran cuối tháng 2/2026 đã khiến chính lời hứa đó trở thành điểm dễ bị phản công nhất về chính trị.

Thảm kịch mới, và những đường nét cũ

Thảm kịch mới, và những đường nét cũ

Song song với những ý niệm về các hệ lụy đã trở nên quen thuộc với bất cứ ai, khi căng thẳng địa chính trị ảnh hưởng trầm trọng đến khả năng vận hành trơn tru của hệ thống kinh tế - xã hội toàn cầu, có một khía cạnh bi thương khó cảm nhận hơn: Sự phác họa và hình thành những cuộc khủng hoảng nhân đạo mới, bên cạnh sự cùng quẫn trong các bi kịch vẫn còn chưa khép lại - điều thường bị che khuất và lãng quên.

Ươm mầm xanh cho tương lai

Ươm mầm xanh cho tương lai

Theo quan niệm của người xưa, vũ trụ có 3 nhân tố cơ bản là Thiên - Địa - Nhân (tức là trời, đất và người). Như trong “Tam tự kinh” có câu “Tam tài giả: Thiên - Địa - Nhân/ Tam quang giả: Nhật - Nguyệt - Tinh”... Trải qua các giai đoạn phát triển của lịch sử, cũng như nhiều quốc gia, dân tộc, Việt Nam hình thành nên truyền thống sống hòa hợp với thiên nhiên (thuận thiên) và luôn coi trọng con người (dân vi bản). Chính vì vậy, chăm lo giáo dục, đào tạo con người là nhiệm vụ xuyên suốt (vì lợi ích trăm năm trồng người)...