Khi chủ nghĩa tối giản gặp thời

Bài 3: Những chớp mắt vô tận trong thơ Việt đương đại

Chịu ảnh hưởng của truyền thống làm thơ ý tại ngôn ngoại, một số nhà thơ Việt đương đại, dù không khỏi bâng khuâng trước quán tính thơ kể, thơ tự sự, cũng đã kịp rẽ ngoặt sang những chân trời của tiết chế, giản lược. 

Ở đó, nhờ khả năng tự loại trừ, giảm thiểu câu chữ, cùng sự dồn nén, chặt chẽ hóa cấu trúc thi tứ, các bài thơ theo hướng tối giản có thể mang chứa rất nhiều lớp nghĩa. 

Thoạt nhìn, các nhà thơ thực hành tối giản phải khổ hạnh, “kiêng khem”ngôn từ, nhưng chính từ trạng thái đó, những làn sóng cảm xúc và liên tưởng sẽ liên tục phủ ập, khỏa lấp tâm trí người đọc. Từ chối mênh mông, tối giản trong thơ Việt lại có những mênh mông khác, thuộc về tâm thức, cảm quan đời sống ngắn ngủi, khoảnh khắc “lóe sống” và lóe sáng.

1. Thả (NXB Hội Nhà văn, 2015) là tuyển thơ, với số lượng không ngờ tới, trên một ngàn bài, đều cùng một thể, tưởng không thể ngắn hơn, “thơ ba câu”, của Mai Văn Phấn. Chẳng những mất thời gian nếu muốn đọc hết tuyển thơ này, mà còn, khó khăn hơn, nếu muốn thẩm thấu hết các ngữ nghĩa của từng ấy bài. 

Hóa ra, chỉ ba câu, với số lượng từ (chữ) chủ yếu dưới mười, nhưng Thả đánh dấu bước ngoặt trong tư duy thơ Mai Văn Phấn, và chắc chắn, trong bối cảnh thơ Việt đương đại, Thả là trường hợp tạo được điểm nhấn nổi bật không nhờ vào sự phong nhiêu, tấp nập, ngồn ngộn câu chữ mà nhờ khả năng tiết chế, giảm thiểu vật liệu ngôn từ.

Mang cái tên hàm chỉ trạng thái buông bỏ, nhẹ nhõm, một ý niệm về sự thoáng qua, vụt hiện, Thả, cũng như phần lớn tiêu đề các bài thơ chỉ một chữ khác, thể hiện tinh tế cảm quan nghệ thuật tối giản hướng về những khoảng trống, khoảng rỗng, những tự do liên tưởng thay vì phải quy chiếu một điểm cố định. 

Vì thế, Thả rộng chỗ cho những trực cảm có thể vang lên bất chợt: “Lơ lửng/ Tiếng chuông/ Rơi” (Hạt sương); những phát hiện nhân sinh tinh tế: “Bóng núi/ Nhuộm râu ông lão/ Gùi lá thuốc về nhà(Chiều xuống); những mơ mộng siêu hình ẩn dưới cái nhìn thảng thốt: “Mình và giọt sương/ Nhìn nhau/ Hai anh em” (Nguồn cội); những giật mình thức nhận về một đời sống bất an và bất khả nắm bắt mọi thứ: “Quờ phải con dao/ Ngỡ cây nến/ Ngọn lửa rất sắc” (Nửa đêm tỉnh dậy)… 

Trong Thả, mạch nguồn cảm hứng gắn với “thiên nhiên trung tâm luận”, đặt nhân gian thế tục vào  thế giới của những núi non, sơn cước, cây cối, chim muông…, nghĩa là, chính xác, đã có sự hồi quy đến phong thái của một cái tôi muốn giao hòa, thấu lẽ vũ trụ, muốn nhận chân bản lai diện mục thông qua đức tính của thiên nhiên, “thấu mọi chuyện/ Như/ Không biết gì(Núi đứng đó). 

Biết như không biết, nói mà vô ngôn, hình hài mà vô tướng, vĩnh cửu mà chớp mắt, nhỏ bé mà không cùng, tại đây và ngay tức thì, những phẩm tính hằng số, biến số ấy của thiên nhiên, trong cảm nhận của Mai Văn Phấn, mới thực sự là chứng nhân, triết nhân đời sống. 

Không nằm ngoài quy luật nhân sinh, vạn vật đều có thời khắc bừng ngộ, chuyển hóa, biến dịch: “Trái ương/ Úp mặt vào đêm/ Mới chín” (Đợi). 

Rõ ràng, Mai Văn Phấn đang cố gắng chuyển tải phong vị Thiền và Lão Trang, một chất xúc tác quan trọng để các câu thơ ngắn, vốn khởi sinh từ thể thơ Haiku, chạm đến ngưỡng triết lí, ẩn dụ, đa nghĩa. 

Dĩ nhiên, không phải các bài thơ ba câu của Mai Văn Phấn đều có tầm vóc thơ Haiku, hoặc sẽ được coi là phái sinh của Haiku, song, như phần lớn các thi sĩ phương Đông khi muốn tu tập trong cảnh giới tối giản, Mai Văn Phấn đã phải soi mình trong cỗi gốc văn hóa, chắc hẳn rất nhọc công, để nhập tâm và hiểu rõ các chuẩn mực diễn đạt kiệm lời mà sâu sắc, trí tuệ mà tinh giản của tiền nhân. 

Khi tác giả, qua hình ảnh “bướm trắng” đậm chất Trang Tử, diễn đạt điều mình tìm kiếm không khác huyễn mộng, “đậu xuống khóm lau/ Tôi tìm/ Không thấy” (Con bướm trắng), tôi tin, ông đã gặp được huệ nhãn đời mình.

Cách chọn lựa “ba câu” của Mai Văn Phấn càng củng cố nhận định của tôi, rằng, rất nhiều nhà thơ Việt hiện đại, sẽ “đi xa về gần”: thoạt tiên quyết liệt đổi mới, cách tân bằng cách phá vỡ các chuẩn mực truyền thống, tiếp thu nghệ thuật phương Tây hiện đại nhưng càng về sau, bởi nhu cầu nội tâm lẫn thúc bách sáng tạo, đã trở về, an trú dưới mái hiên thi ca cổ điển, dưới vòng cung bất tận của những ca dao/ vè, Đường thi, khúc ngâm,… 

Ít nhất, những Trần Dần, Lê Đạt, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên,… đều từng kinh qua trải nghiệm đó. Việc Mai Văn Phấn, một thi sĩ có nhiều đổi mới thơ trong khoảng ba thập niên qua, tái dụng nguyên tắc tiết chế/giảm thiểu ngôn từ của thi học cổ điển, chứng tỏ các hình thức tổ chức thơ ý tại ngôn ngoại, lời ít ý nhiều vẫn chưa nguôi sức hấp dẫn. 

Trước Mai Văn Phấn, Lê Đạt cũng đã biến cải và theo đuổi dạng thơ ông tự đặt tên là “haikâu”. Lý do để sinh thành thơ haikâu, theo Lê Đạt, “ra đời từ bận tâm chống lãng phí […] thủ pháp giản ước quá hấp dẫn”.

Ông nhận thấy bản thân thơ tứ tuyệt, tuy đã chặt chẽ và khúc chiết, nhưng dường như chỉ có câu thứ ba, thứ tư là “hay nhất, căn bản nhất. Còn câu 1 câu 2 có thể coi như những câu dẫn”.

Từ đó, ông chủ động thử nghiệm loại haikâu nhưng không coi nó là một bài “tứ tuyệt cắt đôi” mà là một thể hoàn chỉnh có những con “chíp” chữ đa năng, đa nghĩa. 

Lê Đạt đã viết hàng trăm bài thơ haikâu, góp phần định hình một kiểu “vân chữ” không dễ lẫn với bất kì ai. Đáng chú ý, học theo Lê Đạt, tác giả Nguyễn Khoa Linh cũng đã viết đến 4 tập thơ hoàn toàn hai câu mang tên Nghiệm (2008-2011). Thơ haikâu, vì thế, không đoản mệnh trong bối cảnh các tập thơ mới ở đâu cũng vắn số trên những kệ sách chất chồng danh tác.

2. Cố nhiên, vấn đề của thực hành tối giản trong thơ không chỉ nằm ở số lượng câu chữ. Nó cần đến ít nhất một hoạch định, trù bị cho sự xuất hiện của các hình ảnh, cảm xúc, cái nhìn. 

Với Lê Đạt, haikcâu trước hết là để, như lời Tô Đông Pha, “nhắc nhở thời gian chỉ có một thời”, phải trọn vẹn và cứu vớt những thời khắc bất hoàn tác đó.

Ở trường hợp khác, nhà thơ Trần Quang Quý, tác giả của một dạng thơ do chính ông định danh “namkau”, lựa chọn năm câu cho mỗi bài thơ bởi vì “hợp với khí thơ chiêm nghiệm, triết lý”. 

Trong giới hạn tưởng khó vượt thoát, loại thơ namkau của Trần Quang Quý, bởi sức mở tối đa ở phần kết, lại tạo được những nếp nghĩ hô ứng không dứt. Thơ namkau, tựa mô hình tương sinh của ngũ hành, cho phép tác giả tính toán để trọng tâm ý rơi đúng nhịp xúc cảm, không dùng dằng và ứ thừa, đồng thời cũng không vội vàng bắt vít góc nhìn vào điểm duy nhất. 

Nhờ thế, các bài namkau hay nhất của Trần Quang Quý, theo tôi, là có sự nới lỏng cả về số chữ lẫn thi ảnh, nhưng phải căn đúng nấc tinh lọc cho mỗi triết lí. 

Công việc này, như anh diễn đạt, gần với lao động mùa màng, “Lưỡi liềm gặt những bông lúa chín/ gặt se sắt gió sương/ hương lúa nhấc lên hơi thở cánh đồng/ Chỉ những giọt mồ hôi nhỏ xuống/ nắng gặt về trời chưng cất mây” (Mùa gặt)

Khi triết lí, Trần Quang Quý cũng cố gắng đặt nó trong tinh thần đối thoại, khơi gợi cách nghĩ mới hơn trước những điều quen thuộc. 

Chẳng hạn, về sự soi chiếu các giá trị: “bầu trời mênh mông không thể in bóng nước/ chỉ nước mới in được trời kia lồng lộng/ trên dòng thời gian xanh/ Để in bóng bầu trời cao rộn/ nước lọc mình gạn trong” (In bóng); về sự thật ẩn giấu bên trong: “Để làm núi, đá phải tựa nhau/ lưỡi đá nhọn hát cùng mây ngàn/ bằng sự tĩnh tại đến trọc đầu/ Đá cũng đổ mồ hôi dưới bước chân người/ bước chân một đời gùi hoàng hôn qua núi” (Núi đá); về năng lực riêng có không thể sao chép: “Những con vẹt biết nói tiếng người/ cũng chỉ một vài câu học vẹt/ trò chơi đơn điệu của thanh âm khuôn sáo/ Khi bắt chước tiếng người/ vẹt bắt đầu cụt lưỡi” (Vẹt)… 

Lợi thế của namkau, như vậy, gần gũi với kiểu đoản ngôn vốn giàu sức khái quát, phát hiện và thiên về duy lí.

3. Haikâu của Lê Đạt, ba câu của Mai Văn Phấn hay namkau của Trần Quang Quý, đều tồn tại như một thách thức với thơ nhiều khổ/đoạn hoặc, với thơ văn xuôi, trường ca. 

Tôi không cho rằng các dạng thơ dung lượng ngắn sẽ chiếm ưu thế trong tiếp nhận nhưng bản thân sự vận hành của các mô hình sáng tạo thơ trên đều đòi hỏi nhà thơ phải chấp nhận những khắt khe, áp lực của việc rút bớt, giảm thiểu và chắt lọc. Điều này, một cách tương thích, cũng là đòi hỏi của một xã hội hiện đại coi trọng thông tin và những diễn đạt chính xác, ít “thôi xao”.

Nhìn rộng ra, các loại hình nghệ thuật khác như trang trí, kiến trúc, thiết kế cũng đang đưa sản phẩm về gần với tính hữu dụng, đa năng và đơn giản vận hành. 

Nếu có điểm tương đồng nào giữa thơ ca và thực tế đó, tôi nghĩ, đấy là khi các nhà thơ thực hành nghệ thuật tối giản gợi nhắc chúng ta về tầm quan trọng của sự chú tâm, quán tưởng, tận hưởng thấu suốt vào mỗi hiện hữu, mỗi giây phút, mỗi thời khắc vụt qua và duy nhất mà tạo hóa đã ban tặng.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?