Người nữ trong văn chương Việt

Bài 1: Trăm năm nhìn lại “gái tân thời”

Trong ba thập niên đầu thế kỉ XX, “gái mới”, “gái tân thời” từng là từ khóa nổi bật và hút vào đó vô số nhọc công bàn luận của nhiều cây bút cấp tiến, khiến bản thân các lớp nghĩa không ngừng được mở rộng cũng như những tác động xã hội mạnh mẽ của nó, giờ đây nhìn lại, luôn là dấu chứng quan trọng cho thấy sự đồng tâm nhất trí tiến đến một thời đại văn minh hơn, mà ở đó, người phụ nữ hoàn toàn có quyền khẳng định bản thân nhờ học vấn, vốn hiểu biết và lối sống hiện đại.

“Trêu ngươi” truyền thống

Ngay từ thập niên 1910, trên Đăng cổ tùng báo, Nguyễn Văn Vĩnh (dưới bút danh Đào Thị Loan) đã mở chuyên mục “Nhời đàn bà” như là một cách để bày tỏ những suy nghĩ, quan điểm của ông về hình ảnh người phụ nữ mới. 

Theo đó, phụ nữ hấp dẫn và cá tính là người có học vấn, hay giản đơn hơn, biết chữ. Nhưng biết chữ không phải “viết thư cho giai”, và vì thế, như Tân Nam tử bình luận vào tháng 5-1907, những đàn ông sợ vợ biết chữ viết thư cho giai là những ông không có tài trí gì, chỉ mong vợ ngu dốt, “cứ theo gia huấn mà thờ chuộng chồng, chớ không để cho vợ cứ tùy tâm tưởng mà phục”. 

Ở đây, lập tức, ta thấy vấn đề “nữ học” đã khía vào khuôn thức xã hội truyền thống thường mặc định nam giới mới được/ nên có học vấn. Các nề nếp gia huấn kiểu tam tòng vốn sinh thành từ đạo đức Nho giáo, trong giọng điệu chỉ trích khá gay gắt của Đào Thị Loan, dần bị bật gốc bởi sự vô lí, hẹp hòi của nó. 

Dẫu vậy, mọi trật tự không dễ dàng biến mất và riêng ở việc thừa nhận phụ nữ có học là một đòi hỏi chính đáng thì phải chờ thêm nhiều va chạm khác. 

Bắt đầu từ năm 1918, trên Nam Phong, Trung Bắc tân văn, Hữu Thanh, Phụ nữ tân văn,…, một tiếng nói mạnh mẽ và bền bỉ, một phong thái bàn luận và thức tỉnh vào hàng mẫu mực đã xuất hiện: Đạm Phương nữ sĩ (1881-1947). 

Không chờ đến cánh tu mi nam tử tự san nhường các quyền tất yếu cho nữ giới, Đạm Phương, trong vai nhà báo sắc sảo, đã kiên trì đòi hỏi dư luận lắng nghe, đồng tình với những đề đạt có tầm viễn kiến về việc giáo dục phụ nữ. 

Theo bà, nữ học liên quan trực tiếp không chỉ bản thân một người phụ nữ cụ thể mà còn cả dân tộc về sau. Bởi khi có giáo dục, học thức, người phụ nữ ắt sẽ biết cách đối nhân xử thế, biết dạy con cái, lo toan việc nhà, tham gia các công việc xã hội, hay rộng hơn, biết kiến tạo một tương lai tốt đẹp cho thế hệ tiếp theo. 

Khi Đạm Phương dần rút lui khỏi làng báo (cuối 1930), thì trên thực tế, các nữ kí giả, nữ diễn giả hay nữ tác giả đã không còn quá hiếm hoi, chứng tỏ chuyện học hành và những nghề nghiệp mới, vốn dĩ đầy thử thách ngay cả với nam giới, đã trở nên thuận tay với phụ nữ. 

Ngoại lệ đáng nhớ hơn cả có lẽ là “me Tư Hồng”, một kì nữ có tài kinh doanh nhưng lắm scandal tình ái, đủ tạo nên huyền thoại lẫn sử sự cho Hà thành một thời!

Năm 1932, Phan Khôi cho rằng phụ nữ xưa chỉ lo việc tề gia nội trợ, làm mẹ, làm vợ trong khi “đời nay nhiều phụ nữ không chịu bó buộc mình vào cái khuôn khổ hẹp hòi ấy”. Bởi thế họ nảy sinh nhu cầu giải phóng, “cởi trói”. 

Sang 1933, Phan Khôi xác định cụ thể hơn những phẩm chất của “gái tân thời”: Gái tân thời “ngoài sự ăn mặc mới, trang sức mới, “phải có học thức mới, tư tưởng mới, giỏi ra nữa phải có cách sinh hoạt mới”, và những cái mới đó, “phải từ trong đầu mới ra”. 

Theo ông “tân thời” dịch từ “moderne” trong tiếng Pháp, nghĩa nó là “điều gì hợp với cái thời mình đương ở”. Ông tú Phan Khôi tuy xuất thân Nho học nhưng lại mạnh tay phê phán thiết chế đạo đức hủ lậu đã kiềm tỏa phận vị chị em trong các bổn phận, nghĩa vụ quá ư nặng nề, bất công.

Chống nam quyền, đòi hỏi bình quyền nam nữ, hai trong số nhiều điểm phái sinh của trào lưu xem xét lại Nho giáo, sẽ trở thành diễn ngôn cốt yếu thường xuyên tái lặp trong văn hóa văn chương, báo chí đương thời.

Cũng như Phan Khôi, nhóm Tự lực văn đoàn tỏ ra dứt khoát tạo lớp nghĩa gây hấn truyền thống của “gái mới”. Trên Phong Hóa, loạt bài “Làm thân con gái thời thượng cổ” (30-6-1932), “Một buổi nói chuyện với một người đàn bà ngoại quốc” (7-7-1932), “Học lực của phụ nữ” (18-8-1932), “Vấn đề phụ nữ” (25-8-1932)…, ngoài thăm dò phản ứng của độc giả, là cách nới rộng hình ảnh người phụ nữ nổi loạn trong các tiểu thuyết ăn khách của chính Tự lực. 

Xem học vấn là căn nguyên làm nên khác biệt, Phong Hóa số 18 (20-10-1932) cho biết: “Mới đây học vấn của chị em ngày một lan rộng ra, mạnh như thác chảy [...]. 

Trong đám phụ nữ tân thời, thảng hoặc cũng có một vài người biết học là để đem cái lẽ phải suy xét, áp dụng vào các việc ở đời, làm cho đời sung sướng hơn lên. 

Nhưng mấy người ấy khó mà tìm được người hiểu mình, biết mình. Vì bọn đàn ông bạc bẽo kia lấy vợ thường là chỉ muốn lấy một người… đầu bếp giỏi”. Bình luận dí dỏm ở đây cho thấy phụ quyền vẫn còn đè nặng hôn nhân, vai trò nam giới (người chồng) quyết định số phận người vợ. 

Do đó, không ngừng nghỉ, Tự lực sẽ dùng nhân vật nữ để trực diện tấn công vào, như Neil L.Jamieson trong chuyên khảo Understanding Vietnam (1993) nhận định, “hàng loạt các thành phần văn hóa truyền thống: tục lệ mai mối, nghi lễ (cưới xin, giỗ chạp) và những nguyên tắc (đặc biệt là chữ hiếu, đạo làm con)”. 

Trong bối cảnh chủ nghĩa cá nhân đang bắt đầu thâm nhập sâu, hình ảnh những phụ nữ nổi loạn, “tranh đấu” ngay trong phạm vi gia đình đã làm mất mặt xã hội nam quyền nhưng cũng dự báo trước những chông gai, biến cố khó lường.

Tâm điểm cải cách xã hội

Có thể nói, quá trình cải cách, canh tân xã hội Việt Nam đầu thế kỉ XX gắn liền, song hành với sự thay đổi cái nhìn về phụ nữ. Từ chỗ tòng thuộc nam quyền, đặt mình trong không gian chợ búa và nhà bếp, nữ giới đã dần có mặt một cách đàng hoàng trong các không gian xã hội, không gian công. 

Và nghiễm nhiên, các dự án hiện đại hóa, nhất là tư tưởng và thẩm mĩ, đều phải bắt đầu từ “gái mới”, từ chính tầng lớp vẫn bị coi là nữ nhi liễu yếu đào tơ.

Tháng 2-1934, trên Phong Hóa xuất hiện chuyên mục “Vẻ đẹp riêng tặng các bà các cô” và từ đây, Le Mur Nguyễn Cát Tường sẽ kiên tâm theo đuổi cuộc cách mạng y phục dành cho nữ giới, báo hiệu sự trỗi lên bất khả kìm hãm của nhu cầu làm đẹp và ý thức xây dựng hình ảnh thân thể. 

Câu chuyện quan trọng mà ngày nay được diễn đạt bằng khái niệm “công nghệ thẩm mĩ, làm đẹp” này là một phép thử đặc biệt ghê gớm đối với xã hội mà những ai chưa kịp định hình, lập tức sẽ phản ứng dữ dội. Nguyễn Bính chủ trương bảo lưu chân quê đã không thể chấp nhận “áo cài khuy bấm”. 

Vũ Trọng Phụng trong Số đỏ đã dành hẳn một chương để châm biếm tiệm may  Âu hóa, nơi thỏa mãn mọi nhu cầu ăn mặc của tất cả chị em. 

Nhưng giờ đây, theo tôi, họ Vũ đã không hình dung hết sức mạnh tất yếu của cái mới, đặc biệt khi nó đồng hành với sự thay đổi cái nhìn về thẩm mĩ của nữ giới, từ quần áo chỉ để che thân đến trang phục làm đẹp thân và khoe thân, rõ ràng, là khúc ngoặt trên đà hiện đại hóa đô thị.

Đặt người nữ vào xung đột cũ - mới luôn mang một ý lớn đối với những người trẻ tuổi. Đấy là khi, trên báo chí, họ tìm cách loại dần các đối thủ già nua cả về tuổi tác lẫn tri thức, cổ vũ thoát li trật tự xã hội cũ. Nhưng bi kịch của người có học thức mới, nhất là phụ nữ, đôi khi nằm ở chỗ họ đã trở thành kẻ đáng ghét quá nhanh trước con mắt thủ cựu. 

Nhân vật Loan trong Đoạn tuyệt đã thấm thía đến chừng nào nỗi khổ của một phụ nữ tân thời có học thức khi bị bủa vây bởi đám người vô học nhưng thừa năng lực tấn công người khác bằng thứ đạo đức giả dối. 

“Cái học kia chỉ làm cho mình biết và cảm thấy rõ những nỗi đau khổ phải gặp trên đường đời” không phải là lời than oán của Loan dành cho việc mình đã đến trường mà là sự tự tri nhận tác dụng của học vấn, thứ kinh nghiệm mới mẻ giờ đây giúp nàng phân biệt được lẽ đúng sai trong mỗi hành vi, suy nghĩ và bổn phận của mình. 

Sức mạnh trí tuệ ở Loan, không gì khác, là đã phát hiện, chỉ mặt những tác nhân gây đau khổ, dù đến cùng hay nửa vời, để không rơi vào tình cảnh mê muội chấp nhận mọi phi lí, ngang trái. Đứng sau mỗi bước đi ấy, như phát hiện của Nhất Linh, chính là phương Tây, “chính người Pháp đã dạy họ những nhẽ lý mới, đã cho họ những quan niệm mới về cuộc đời”. 

Như vậy, giải quyết xung đột cũ - mới xoay quanh vị thế người phụ nữ chính là một phương sách đắc dụng để thích ứng với phương Tây hóa và dần rời xa ảnh hưởng Trung Hoa truyền thống.

“Đời cô Mai” (Nửa chừng xuân, 1933) tạo tiền lệ cho “đời cô Loan” (Đoạn tuyệt, 1936) dệt nên một trong những câu chuyện dữ dội, lạ lùng bậc nhất của văn học Việt Nam hiện đại: phụ nữ sẵn sàng chấm dứt những trói buộc hôn nhân môn đăng hộ đối, để tự định đoạt lấy cách hạnh phúc và giá trị của mình. 

Cả Mai, Loan, khác Tố Tâm (1925), đều không tự vẫn khi rơi vào bi kịch. Điều này cho thấy, vào giữa thập niên 1930, nữ giới đã có thể tìm thấy cơ hội khẳng định cách sống mà mình cho là xứng đáng. 

Chấp nhận trạng thái “nửa chừng xuân” (mà nói theo ngôn ngữ hiện nay là làm “mẹ đơn thân”!) để tiếp tục sống cảnh tự do, tự trọng và tự lập, Mai là một hình mẫu lí tưởng để những người trẻ đương thời nhận diện và vươn tới. Dĩ nhiên, nó quá khó, thậm chí quá sức thực hiện cho đến tận hôm nay dù tinh thần nữ quyền nơi đâu cũng thống thiết đề cao.

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?