Yêu như “một chú gấu mùa xuân”

Tiểu thuyết “Rừng Na Uy” của nhà văn Haruki Murakami có đoạn:- Tớ thực sự thích cậu, Midori à. Thích lắm.- Lắm là bao nhiêu?- Là như một chú gấu mùa xuân.

- Một chú gấu mùa xuân ư? Thế nghĩa là sao? Một chú gấu mùa xuân.

- Cậu đang bước đi trên một cánh đồng, chỉ có một mình, vào một ngày xuân, và chú gấu con bé nhỏ đáng yêu ấy, với bộ lông mượt như nhung và cặp mắt nhỏ sáng ngời chạy tới đi cùng với cậu. Và nó nói “Xin chào tiểu thư. Có muốn lộn nhào với tôi không?”. Thế là cậu với chú gấu chơi với nhau cả ngày hôm đó, quấn quýt trong tay nhau, lăn mình xuống triền đồi phủ đầy hoa cỏ ở đó. Hay chưa nào?

- Ờ. Thật là hay.

- Tớ thích cậu đến như vậy đấy.

Yêu như “một chú gấu mùa xuân” -0
Nhà lý luận phê bình Hoàng Đăng Khoa.

Thiết nghĩ, nếu không có đôi mắt được phát quang đến thoáng đãng trong veo, nếu không có tâm hồn được dọn dẹp đến thơm tho sạch sẽ, hay nói như nhà văn Kawabata Yasunari (Nobel văn học 1968), nếu không biết “sửa soạn tấm lòng sao cho thật trong sáng và đẹp đẽ”… thì Murakami khó có thể nhìn thế giới bằng ngôn từ một cách xuân mởn như thế. Đó chính là trạng thái thuần khiết tự nhiên, biết khám phá và rung động trước những ý nghĩa mới như đứa trẻ nghe được cả đại dương trong chiếc vỏ ốc nhỏ nhoi.

Nhà văn Victor Hugo nói: “Tình yêu khiến con người ta trẻ con hơn”. Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cũng nói, tình yêu khiến “tâm hồn anh vừa sống lại thành trẻ thơ/ trong sạch như một lần sự thật”. Đúng vậy, nhưng cũng cần nói thêm, phải sở hữu một tâm hồn “trẻ con” thì con người ta mới đến được “tình yêu”. Nghĩa là, nói như nhà văn Nam Cao, nếu con người ta mang “đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỷ”, hay nói như nhà văn Phạm Duy Nghĩa, nếu con người ta mắc “bệnh tỉnh”, nhìn ai cũng thấy chẳng có gì đáng yêu, thì làm sao có thể mở cửa trái tim để yêu và ấp iu tình yêu được.

Vâng, từ thoạt kỳ thủy cho đến ngày tận thế, tình yêu luôn là nguồn năng lượng, nguồn cảm hứng vô biên bất tận đối với chủ thể sống và viết.

Tình yêu xưa như trái đất, cũ như loài người, tất yếu như thức ăn nước uống không khí thở. Ấy nhưng, tình yêu luôn mới. Bởi trái đất luôn vận động. Loài người là sự cộng sinh thay thế của vô vàn con người. Mỗi con người là một chủ thể yêu. Mỗi chủ thể yêu là một chủ thể trải nghiệm và sáng tạo. Một khi chủ thể yêu đồng thời là chủ thể thơ thì ở đó tình yêu càng đặc biệt được sáng tạo.

Phải chăng vì quan niệm: “sống/ hành trình tiến về phía trước/ trên con đường trong trải nghiệm của riêng mình”, “không trải nghiệm tình yêu/ đời người như hạt giống nằm trong lọ/ không gieo trồng”, “ta làm mới chính mình để nuôi dưỡng tình yêu”..., nên đời sống, đời thơ của Lê Khánh Mai không ra ngoài từ-trường-yêu. Với chị, yêu là lý do sống cũng là mục đích sống; hay nói cách khác, chị yêu để sống và sống để yêu. Và thơ, vừa là cách chị vật chất hóa cái tình yêu ngồn ngộn thường trực trong mình, vừa là cách chị đối thoại với tình yêu đó, định danh nó, khai mở mật ngôn của nó: “như tình yêu chọn thơ làm nơi nương náu”, “chân lý tìm đâu trong cõi mông lung/ cỏ vẫn lặng lẽ xanh lặng lẽ úa tàn”.

Cái tên Lê Khánh Mai mang đến cho người đọc hình dung về một chủ thể mà ở đó năng lượng trữ lượng sống-yêu-viết dường như luôn trong trạng thái vơi rồi lại đầy. Chính trạng thái vơi rồi lại đầy (khác với luôn đầy) này khiến cho cái năng lượng trữ lượng kia không ngừng được tái tạo và sáng tạo, để rồi cái sống cái yêu cái viết kia luôn mới mẻ sinh sôi.

Thi giới “Mật ngôn của tình yêu” của Lê Khánh Mai song tồn hai mặt đối lập hiện thực và giấc mơ, trong đó, chủ thể bung phá nới giãn hóa giải hiện thực bằng giấc mơ, cũng là cách để hiện thực hóa giấc mơ: “như chiếc hạt ủ sâu trong lòng đất trút bỏ lớp vỏ úa tàn/ đội mầm xanh đón những giọt sương mai soi bóng nụ cười và nước mắt”, “trên ngưỡng cửa ngôi nhà ta chia tay với bóng đêm/ mang theo giấc lành hái từ ngôi sao số phận”. Dẫu vẫn biết “hữu hạn đời người/ bí mật lớn lao trong tay thiên cơ”, nhưng phận người lại đồng thời là trong tay con người, do con người làm chủ.

Giữa sâu rộng vũng bi kịch bởi đứt lìa dang dở mất mát, mầm sống mầm yêu mầm thơ cứ cựa quẫy bung bật: “ánh sáng chống lại bóng tối/ đánh thức những cơn mê/ bật dậy những hạt máu li ti/ mạnh hơn ngựa chiến”, “người lặng lẽ thắp lên tín hiệu xanh/ và tôi bừng thức/ như chiếc lá thu tàn/ tái sinh diệp lục”, “tháng chạp kết thúc và tàn lụi/ cho những điều mới mẻ sinh ra”, “loài người tăm tối vì giam hãm mình trong định kiến/ sự nghèo nàn của thơ vì tự giới hạn trong những điều hiện hữu”.

Đúng vậy, con người cần tranh thủ tự yêu lấy mình từng satna hiện sinh. Tự phá vỡ định kiến để vượt thoát giới hạn, đó là cách khả dụng giúp con người khai minh cho mình, làm giàu có cho thơ: “hãy sẵn sàng cây cọ/ căng tấm toan cát trắng/ và vẽ lên đó/ tình yêu”, “hãy đi con đường bên ngoài những con đường”.

Một khi sống hết mình yêu tận độ, rồi dốc kiệt cái lưng túi sống và yêu ấy lên thơ, thì con người đã đóng được con dấu hữu hạn đời mình lên càn khôn vô hạn, dự phần làm tươi mới trái đất, làm đa dạng đa sắc thế giới loài người: “những ngón tay định mệnh văn chương/ đóng đinh nỗi khát yêu của những người đàn bà đa cảm”, “hạnh phúc này/ oan nghiệt này/ khoảnh khắc này/ là/ cả một đời yêu”.

Yêu như “một chú gấu mùa xuân” -1

Thi tập “Sự im lặng biếc xanh” như là một cách Như Bình tự thú, rằng thực ra mình chỉ là một “con thú”, hoang dại và cô đơn, bị nhốt và bỏ đói quá sâu và quá lâu: “em không thể chạy đến để nói với anh thật ra em rất cô đơn/ con thú hoang trong em rũ lông cụp đuôi lùi về phía bìa rừng/ gục đầu thú tội/…/ nỗi nhớ phờ phạc đổ bóng những chiều tà/ nỗi nhớ rạc gầy trong xác thân héo rũ/ nỗi nhớ như a xít ăn mòn răng và tóc/ chỉ còn trơ lại hốc mắt khô/…/ con thú hoang đã nhốt sâu/ dù nó nhe răng van vỉ em bằng cái vẻ cụp đuôi xờ xạc/ dù nó đã cắn em suốt đêm trong nỗi nhớ anh phờ phạc”.

Hồ Minh Thông tận tụy sống trải, cần mẫn gom cất mỗi ngày vào ngăn ký ức, rồi thường trực thao thức “mở mùa đem nỗi nhớ ra phơi”, lật trở hít hà từng mảnh thời gian đã mất “thơm suốt một đời trăng”. Thi giới “Gọi hoàng hôn” chập chờn chiêm mộng, là bóng quê nhà, là hình ruột rà, là hương tình cũ. Chủ thể thơ trắc ẩn đa mang mong manh như lau trắng, gió qua rồi vẫn run rẩy xôn xao. Và thơ như là sợi chỉ mềm bền, để chị luồn vô năm tháng, mê mải tìm mình, khâu/xâu những dang dở lỡ làng, những ngọt ngào nồng đượm, để được tái sinh, căng mẩy tràn đầy…

Giữa lưng chừng thiếu phụ, giấc mơ đầy một gánh, với ý chí tự do của gió, Bùi Thị Diệu trượt khỏi đường biên của mùa bằng thi tập “Còn bông cúc vàng ở lại”. Như lá giữa muôn ngàn phiến, đòi sắc xanh khác sắc vàng khác. Như chiếc bát trắng tinh, khát nỗi đầy, giêng hai mùa gạo mới. Để rồi, từ gian nan tình yêu, những bài thơ cứ im lặng nở, ở lại bên đời, ấm hơn mặt trời, mặc kệ thời gian rơi đầy hai tay…

Không gian thơ Trần Hạ Vi, từ “Lật tung miền ký ức” đến “Vi” đến “Phiến hạ”, như một lẽ thường tình, “có những vết thương vô danh/ và những vết thương có tên gọi”, nhưng đáng chú ý ở chỗ là tràn ngập hoan ca tình yêu. Chị “cảm ơn vũ trụ bao dung” mở ra vô vàn cơ duyên để bản thân không ngừng được kết nối tương giao. Cái yêu đọng thành cái sống và chảy thành cái viết. “Yêu nhau trên những vần thơ/ làm tình cùng chữ”. Thơ Vi, do vậy, như “những cái hôn sâu/ như bản năng cuộc sống”.

Có phải chúng ta đang bị tự nhiên lừa/ để kéo dài sự sống”. Đây là hai câu thơ của thi sĩ Trương Đăng Dung, dựa trên ý của triết gia vĩ đại người Đức Arthur Schopenhauer. Theo đó, cái gọi là tình yêu đã bị đặt vào tình thế giải thiêng, chất vấn. Con tạo khéo bày trò lừa mị con người, để rồi giống đực và giống cái ngộ tưởng yêu nhau mà đến với nhau, phối trộn cùng nhau, để lại tạo sinh ra những con người, để nhân loài được trì bồi miên viễn.

Mặc kệ ai giải thiêng, chất vấn tình yêu, thì trái tim những thi sĩ, đặc biệt là nữ sĩ, vẫn đinh ninh tin, rằng tình yêu là có thật, rằng tình yêu là tất cả sinh mệnh, là ân điển và tai ách, hạnh phúc và thống khổ, phấn hứng và bất an, đầy tràn và hao rạc… Sau bã bời sống và yêu, họ đi đến được trạng thái tự cân bằng, nhờ học theo cách của bầu trời: “bầu trời triệu năm đã thiền bên mây trắng/ bọc ối thiền mặc kệ bão ngàn xa”, “thở vào thở ra tan biến/ hóa em một thanh âm lành” (thơ Như Bình); “sau những mùa lá rụng/ thấy mình đơn sơ hơn/ sau tháng ngày dài rộng/ tim đau từ tốn hơn” (thơ Trần Kim Hoa); “tôi yêu cái khoảng cách mơ hồ lọc tôi đến trong veo/ và độc chiếm không gian bình yên tự do dâng hiến” (thơ Lê Khánh Mai)…

Mọi thứ đều đáng hoài nghi, riêng tình yêu là bất khả tư nghị. Đi thật khẽ thật sâu vào thi-giới-yêu, khách thơ lại muốn, nói như thi sĩ Đỗ Quang Nghĩa là, một lần nữa tỏ tình cùng người mình đang yêu.

Vâng, được sống là đặc ân. Và ích dụng thiết thực nhất, “vị nhân sinh” nhất của văn chương đó là góp phần giúp con người tìm thấy niềm vui sống. Cuộc đời trôi đi đơn giản, như xuân đi xuân lại. Hãy biết yêu đời yêu người mà sống. Yêu nhiều, nhiều như… “một chú gấu mùa xuân”.

Hoàng Đăng Khoa

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).