Vua Trần Thái Tông tiễn sứ Bắc quốc về nước

Hầu như các vua nước ta ở đời Trần đều tiếp và tiễn đưa các vị sứ thần Bắc Quốc về nước. Mỗi người mỗi hoàn cảnh và đối tượng khác nhau, nhưng đều có dấu ấn để lại qua thơ ca của họ. Vua Thái Tông Trần Cảnh (1218-1277) có bài thơ "Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh", rất thú vị.

Phiên âm:

Tống Bắc sứ Trương Hiển Khanh

Cố vô quỳnh bảo tự hoài tàm,
Cực mục giang cao ý bất kham.
Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp,
Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am.
Mạc không nan trụ yến quy Bắc,
Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam.
Thử khứ vị tri khuynh cái nhật,
Thi nhiên liêu vị dáng thanh đàm.

Dịch nghĩa:

Tiễn sứ Bắc Trương Hiển Khanh
Nghĩ không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng tự thẹn,
Trên bờ sông nhìn xa mãi xiết bao ngậm ngùi.
Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm,
Ánh trăng lọt qua rường nhà dọi vào phòng sách.
Màn trống khó ngăn chim én về phương Bắc,
Đất ẩm buồn nghe chim nhạn biệt phương Nam.
Lần đi này chưa biết ngày nào mới có dịp nghiêng lọng,
Xin vì có cuộc chuyện trò tao nhã mà có một bài thơ.

tiễn sứ 2.jpg -0
Tranh minh họa cảnh tiễn sứ về nước.

Dịch thơ:

Thẹn không ngọc báu tạ ơn lòng,
Bát ngát nhìn sông dạ rối bong.
Đầu ngựa gió thu khua bảo kiếm,
Nóc nhà trăng dọi sáng thư phòng.
Én về đất Bắc màn trơ trọi,
Nhạn biệt trời Nam, tiếng não nùng.
Nghiêng lọng ngày nào chưa dễ biết,
Thơ này xin thế chuyện riêng chung.

(Đào Phương Bình dịch)

Đây là bài thơ vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh) viết tặng Trương Hiền Khanh (tức Trương Lập Đạo) khi ông sứ thần này được vua nhà Nguyên phái sang nước Đại Việt ta để “truyền chỉ dụ” vào năm 1265.

Ông Trương Lập Đạo còn được phái sang nước ta lần thứ hai, vào năm 1291, dưới triều vua Trần Nhân Tông. Lần này nhà Nguyên ngạo mạn hơn, hạ chiếu đòi vua Trần Nhân Tông phải đích thân sang chầu, nhưng vua quan nhà Trần khôn khéo tìm cách từ chối.

Như vậy, bài thơ “Tống Bắc sứ Trương Hiền Khanh” được vua Trần Thái Tông viết nhân dịp ông sứ thần nhà Nguyên Trương Hiền Khanh đã hoàn thành nhiệm vụ bang giao mà trở về phương Bắc.

Cuộc tiễn đưa có vẻ lưu luyến, diễn ra trên bờ sông, chắc chắn là sông Nhĩ Hà, đời Trần còn gọi là Lô Giang (sông Lô). Bến Đông Bộ đầu, (nay là khoảng phố Hòe Nhai, Hà Khẩu, Hàng Than, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội) thường là nơi tiễn đưa các sứ đoàn nước ta đi phương Bắc, hoặc sứ thần Bắc Quốc về xứ Bắc. Từ bến sông lịch sử này, các sứ đoàn sẽ qua sông Lô bằng thuyền buồm, rồi lên bờ Bắc, ở quãng Ái Mộ, quận Long Biên ngày nay để tiếp tục đi sang Kinh Bắc, rồi lên biên giới Lạng Giang.

Vị chủ nhà khiêm nhường nói khéo:

Nghĩ rằng không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng cảm thấy tự thẹn,
Trên bờ sông, nhìn xa mãi xiết bao ngậm ngùi.

(Cố vô quỳnh bảo tự hoài tàm / Cực mục giang cao ý bất kham)

Đấy là hai câu thơ mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường. “Quỳnh bảo”, tức thứ ngọc quỳnh rất quý, người xưa thường dùng vật quý này để tặng nhau.

Sách Kinh Thi (thiên Vệ Phong) có câu: “Đào ngã dĩ mộc đào/ Báo chi dĩ quỳnh dao” (Tặng ta quả mộc đào/ Ta đáp lại bằng ngọc quỳnh dao). Nguyễn Du trong "Truyện Kiều" cũng tả vẻ đẹp phong nhã trong mỗi bước đi của chàng thư sinh Kim Trọng:

Hài văn lần bước dặm xanh,
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao
”…

Sứ thần nhà Nguyên sang nước ta, lúc đầu thường vẫn vênh vang tự đắc, cao ngạo như một kẻ bề trên, thượng quốc. Vua của họ tự xưng là Thiên tử (con Trời). Ta là nước nhỏ, chỉ được xem là nước chư hầu, vua cũng chỉ ở ngôi Vương (An Nam Quốc Vương), nên việc tiếp đón sứ thần thượng quốc là một việc rất hệ trọng, có vai trò vô cùng cần thiết trong mối quan hệ bang giao, nhằm giữ cho được hòa bình, lại phải giữ cho được thể diện và quyền tự chủ của một quốc gia độc lập. Cho nên, các vua Đại Việt phải rất khéo léo trong ứng xử. Sách lược “Nội cương, ngoại nhu” (Trong cứng, ngoài mềm), “Dĩ bất biến ứng vạn biến”, luôn được thực thi một cách triệt để, như một nghệ thuật ngoại giao tài tình.

Ở lâu, đàm đạo văn chương thù tạc cũng nhiều, cho nên sứ thần phương Bắc mới dần hiểu và càng nể phục ý chí và tài năng thơ phú của vua quan nước ta, đặc biệt là ở đời nhà Trần. Hiểu nhau, nể trọng nhau rồi thì thành ra quan hệ trở nên gần gũi hơn. Thế nên cuộc tiễn đưa mới có vẻ bịn rịn và chân thành.

Vua Trần Thái Tông nói rằng “Nghĩ rằng không có ngọc quỳnh đáp lại, lòng cảm thấy tự thẹn” là có cái ý khiêm cung đấy thôi. Hình như nhà thơ muốn nói rằng mình không có tài thi phú để làm được bài thơ hay tặng khách quý đấy chăng?

Mượn điển bên Tàu, dùng văn hóa Tàu để giao đãi với sứ thần nước ấy, cũng là một sự khéo léo, khiêm nhường. Nhìn chiếc thuyền chở sứ thần nước Nguyên, giờ đây đã như một người bạn quý, nên cuộc tiễn biệt mới có cảm xúc chân thành như vậy. Hôm ấy, chắc sông Hồng mênh mang sương khói, chiếc thuyền khách cứ xa dần, xa dần, trôi dần sang bờ Bắc, đem theo một người bạn quý chả biết có khi nào gặp lại.

Chẳng phải cũng ngậm ngùi lắm sao?

Hai câu thơ tiếp theo, tả thực, nhưng là để mượn cảnh mà tả tình:

Mã thủ thu phong xuy kiếm giáp,
Ốc lương lạc nguyệt chiếu thư am.

(Gió thu trước đầu ngựa thổi vào thanh gươm,
Ánh trăng lọt qua rường nhà, lọt vào phòng sách)

Câu trước tả hình ảnh người ra đi, tức vị khách quý. Câu sau tả quang cảnh trống vắng của căn phòng đọc sách mà khách và chủ có thể đã từng nghiền ngẫm và đàm đạo văn chương ở cung điện của nhà vua trong suốt những ngày qua. Cảnh chỉ mang tính biểu tượng, có phần ước lệ, nhưng có phần sáng tạo, gần gũi và hợp tình. Đỗ Phủ khi làm thơ nhớ Lý Bạch có câu:

Lạc nguyệt mãn ốc lương,
Do nghi chiếu nhan sắc

(Trăng sáng đầy rường nhà/ Những tưởng dọi sáng dung nhan).

Vua Trần Thái Tông mượn điển bên Tàu, cốt để gửi gắm cái tình của người đương thời, của người trong cuộc, của mình với ngài Trương Lập Đạo đại nhân mà thôi.

Còn như:

Màn trướng khó ngăn chim én về phương Bắc,
Đất ẩm buồn nghe chim nhạn biệt phương Nam.

(Mạc không nan trụ yến quy Bắc,
Địa noãn sầu văn nhạn biệt Nam)

Thì lại là những cảm nghĩ, những suy tư lưu luyến của người ở lại. Cái việc ngài sứ thần trở về phương Bắc là không thể khác được, dầu cho cái tình lưu luyến đã là sâu đậm như thế nào chăng nữa. Đồng thời, cái tình của người phương Nam với sứ thần cũng tương tự như vậy.

Thế nên:

Lần đi này chưa biết ngày nào mới có dịp nghiêng lọng,
Xin vì có cuộc chuyện trò tao nhã mà có một bài thơ.

(Thử khứ vị tri khuynh cái nhật,
Thì thiên lưu vị dáng thanh đàm).

“Nghiêng lọng” vốn là một tích xưa. Sách "Gia ngữ" chép câu chuyện Khổng Tử đi sang đất Đàm, gặp Trinh Tử ở dọc đường. Hai người dừng lại, nghiêng lọng nói chuyện với nhau cả ngày, tình rất tâm đầu ý hợp. Tác giả mượn điển này để tỏ cái tình lưu luyến của mình với bạn trong cuộc chia tay chưa biết bao giờ mới có cơ hội gặp lại. Âu cũng là cái tình muôn thuở vậy!

Có thể hình dung tổng thể bài thơ của Trần Thái Tông là viết tặng sứ thần Trương Lập Đạo (Trương Hiền Khanh). Viết trong cuộc chia tay ở kinh thành Thăng Long, có thể là sau yến tiệc cung đình tiễn khách như thường lệ. Còn như cảnh tiễn đưa cũng chỉ là chuyện sắp tới, có thể là được diễn ra trong sớm mai, khi ngài sứ thần lên đường trở về phương Bắc.

Giao đãi với người, lại chỉ dùng vốn hiểu biết văn hóa xứ người, là không thể khác, nhưng đồng thời cũng thể hiện bản lĩnh của một ông vua có văn hóa, mặc dù hồi ấy chữ Hán được dùng như một văn tự chính thống của nước ta. Tinh tế, khôn ngoan, nhưng cũng chân thành nồng ấm. Đó chính là cái tình lớn của những người bạn lớn, quan thiết đến công cuộc bang giao và vận mệnh của hòa bình.

Qua những lần tiếp xúc trực tiếp với vua quan nước Đại Việt, Trương Lập Đạo dần tỏ ra rất kính trọng vua quan nhà Trần và truyền thống văn hóa, văn chương đặc sắc của người Đại Việt. Chính ngài Trương Hiển Khanh từng viết:

Nước Nam tuy nhỏ nhưng có văn chương,
Chưa thể nói một cách nông cạn rằng, họ như ếch ngồi đáy giếng
!”.

Trong bang giao rất tế nhị với sứ thần Bắc Quốc, nếu đó là người nước Tống làm quan cho nhà Nguyên, các vua Trần thường khéo léo có ý nhắc nhở về thân phận các vị sứ thần Bắc Quốc rằng, chính họ, chẳng qua cũng chỉ là kẻ nô lệ cho ngoại bang, cho người Mông Cổ, chứ vẻ vang cái nỗi gì! Họ còn nhục nhã ngậm đắng nuốt cay mà phải cam lòng cúi ngửa trước kẻ thống trị. Còn như Đại Việt ta nhỏ bé, nhưng vẫn là một quốc gia chiến thắng, một quốc gia độc lập, có truyền thống văn hóa ngàn đời. Thử hỏi, ai hơn ai nào!

Vũ Bình Lục

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).