Vọng cổ-làn điệu "vua" trong âm nhạc tài tử và cải lương

Nhắc đến âm nhạc tài tử và cải lương, người ta thường nghĩ ngay đến điệu "Vọng cổ". Bất cứ cuộc sinh hoạt đờn ca tài tử nào, bất kỳ vở tuồng cải lương nào, cũng đều có sự hiện diện của bài ca "Vọng cổ". Bài "Vọng cổ" có thể dung nạp các loại hơi: Xuân, Ai, Bắc, Oán, cũng như một số làn điệu âm nhạc dân gian khác như: Hò,Vè, Lý, Thơ... Nhờ vậy bản "Vọng cổ" được xem là một thể điệu chủ lực, là bản nhạc "Vua" trong âm nhạc tài tử và cải lương.

Cội nguồn của làn điệu "Vọng cổ"

Tiền thân của điệu "Vọng cổ" chính là bản "Dạ cổ hoài lang" do cố nhạc sĩ Cao Văn Lầu (tức Sáu Lầu) sáng tác. Nhạc sỹ Cao Văn Lầu sinh năm 1892 tại xóm Cái Cui, làng Chí Mỹ, huyện Vàm Cỏ (nay là huyện Châu Thành), tỉnh Long An. Ông mất ngày 13/8/1976 tại Bạc Liêu.

Lấy vợ, vợ không sinh con, cha mẹ buộc ông thôi vợ để cưới người khác và cho vợ ông được trở về nhà cha mẹ đẻ. Nhưng Sáu Lầu vẫn chung thủy. Ông âm thầm gửi vợ đến một gia đình có tấm lòng nhân hậu, cho ở đậu qua ngày với hi vọng vợ chồng ông sẽ có con và chiến thắng một quan niệm khắc nghiệt. Trong thời gian dài phu thê phải cam chịu cảnh "đêm đông gối chiếc cô phòng", ông nằm nghe tiếng trống chùa Vĩnh Phước vọng, chợt cảm hoài nhớ đến bài "Tô Huệ chức cẩm hồi văn" theo điệu Nam Ai. Ông lại liên tưởng việc đất nước đang bị thực dân xâm lược, bao phụ nữ phải chịu cảnh cô đơn chờ chồng, tâm trạng chẳng khác gì tình cảnh của vợ chồng ông.

Nghệ sĩ Ưu tú Diệu Hiền - người thành công với những bài ca "Vọng cổ" có tính chất bi hùng và Nghệ sĩ Ưu tú Út Bạch Lan - người thành công với những bài "Vọng cổ" mang tính tự sự, trữ tình.
Nghệ sĩ Ưu tú Diệu Hiền - người thành công với những bài ca "Vọng cổ" có tính chất bi hùng và Nghệ sĩ Ưu tú Út Bạch Lan - người thành công với những bài "Vọng cổ" mang tính tự sự, trữ tình.

Từ những cảm xúc ấy, ông sáng tác bản "Dạ cổ" gồm 20 câu, nhịp đôi (Hò là xang xê cống… - Từ là từ phu tướng…). Sau đó, tác phẩm được sự góp ý sửa chữa của thầy Thống (tức nhà Nho học Nguyễn Xuân Thơ) và sư Nguyệt Chiếu ở chùa Vĩnh Mỹ, trở thành "Dạ cổ hoài lang". Ông đem ra trình bày cho một số đồng nghiệp tham khảo và cũng được góp ý thêm.

Năm 1918, ông lén đến thăm vợ và mấy tháng sau được vợ báo tin bà đã có thai. Cha mẹ ông vui mừng và rước vợ ông về đoàn tụ. Kết quả, cậu con trai đầu lòng ra đời (1919) tên là Cao Kiến Thiết (sau này là cán bộ ngoại giao cấp cao của Việt Nam), cũng là lúc bản "Dạ cổ hoài lang" được phổ biến trong giới Tài tử Bạc Liêu. Đó là buổi bình minh của bản "Vọng cổ".

Những chặng đường phát triển

Khởi điểm từ nhịp đôi, nhưng khi "Dạ cổ hoài lang" hòa nhập vào sân khấu cải lương thì nhịp đôi không đủ để diễn tả nội dung, tâm trạng của nhân vật. Hai soạn giả tiền phong góp công đầu để biến bản nhạc này từ nhịp đôi trở thành nhịp tư là tác giả Huỳnh Thủ Trung (tức Tư Chơi) và tác giả Mộng Vân (tức Trần Tấn Trung). "Tiếng nhạn kêu sương" là bản "Dạ cổ hoài lang" (còn có tên gọi khác là "Vọng cổ hoài lang") nhịp tư đầu tiên do soạn giả Huỳnh Thủ Trung (1907 - 1964) sáng tác vào năm 1925.

Mặc dù thầy Giác là người khởi xướng bản "Vọng cổ hoài lang" nhịp 8 vào khoảng năm 1929-1930, nhưng phải đến những năm 1935 - 1937, nghệ sĩ Năm Nghĩa mới chính thức phổ biến trong giới mộ điệu cải lương qua bài "Văng vẳng tiếng chuông chùa", thì nó có tên mới là "Vọng cổ" (không còn cái đuôi "hoài lang" nữa). Bản "Vọng cổ nhịp 16" được chính thức thành hình vào năm 1938 qua tiếng đờn của nhạc sĩ Bảy Hàm với tiếng hát của cô Tư Sạng trong bài ca "Tình mẫu tử".  Nhưng phải đợi nhiều năm sau (1954) với tiếng hát điêu luyện của Đệ nhất danh ca "Vọng cổ" Út Trà Ôn trong bài "Tôn Tẫn giả điên", bài "Vọng cổ" nhịp 16 mới được phổ biến rộng rãi hơn.

Từ năm 1954 trở đi, bản "Vọng cổ nhịp 32" xuất hiện qua các đĩa hát do các hãng đĩa Asia, Hồng Hoa, Lam Sơn, Hoành Sơn xuất bản. Bài "Đội gạo đường xa" của cố soạn giả Kiên Giang do cố Nghệ sĩ Hữu Phước thể hiện được xem là tiêu biểu nhất. Từ năm 1964, soạn giả Viễn Châu đã mạnh dạn làm một cuộc cách tân bản "Vọng cổ" trở thành bản "Tân cổ giao duyên" với sự gắn kết thật nhuần nhuyễn giữa nhạc tân và nhạc cổ.

Bản "Tân cổ giao duyên" đầu tiên của ông có tên gọi "Chàng là ai" từ bản tân nhạc  của nhạc sỹ Nguyễn Hữu Thiết, do Nghệ sĩ Nhân dân Lệ Thủy thể hiện. Về sau, có người đưa bản "Vọng cổ" lên thành nhịp 64 và nhịp 128, nhưng không thành công. Cho tới hôm nay, sau hơn 50 năm, bản "Vọng cổ" nhịp 32 vẫn còn "ăn khách", vẫn được phổ biến trong đờn ca Tài tử và sân khấu cải lương.

Từ trái sang phải: Soạn giả Trọng Nguyễn có nhiều bài ca "Vọng cổ" được giới mộ điệu yêu thích, soạn giả - Nghệ sĩ Nhân dân Viễn Châu - Tác giả của hơn 2.000 bài "Vọng cổ", cha đẻ của "Tân cổ giao duyên" và Cố Nghệ sĩ Nhân dân Út Trà Ôn người góp phần "thăng hoa" cho bài ca "Vọng cổ".
Từ trái sang phải: Soạn giả Trọng Nguyễn có nhiều bài ca "Vọng cổ" được giới mộ điệu yêu thích, soạn giả - Nghệ sĩ Nhân dân Viễn Châu - Tác giả của hơn 2.000 bài "Vọng cổ", cha đẻ của "Tân cổ giao duyên" và Cố Nghệ sĩ Nhân dân Út Trà Ôn người góp phần "thăng hoa" cho bài ca "Vọng cổ".

Bản "Vọng cổ" còn hoà kết với một số thể điệu của âm nhạc cải lương, không chỉ mở đầu hoặc đan xen giữa bài ca là một bài bản vắn như: Kiều nương, Sơn đông hướng mã, Ngũ điểm - Bài tạ, Sương chiều -Tú anh…, mà nhiều tác giả còn chọn lựa một số lớp trong những thể điệu lớn để hoà kết với "Vọng cổ" như: Ngựa ô nam, Nam xuân, Phụng hoàng, Trường tương tư, Tứ đại oán.v.v…

Sự thăng hoa của bài ca "Vọng cổ"

Về mặt làn điệu và cấu trúc âm thanh, bản "Vọng cổ" là điệu ca, bản ca đầy cảm xúc trong hơi điệu và nhạc cảm. Tuy ra đời muộn hơn so với nhiều làn điệu, bài bản khác của âm nhạc tài tử và cải lương, nhưng "Vọng cổ" trở thành bản "chủ lực", chiếm vị trí chủ đạo trên sân khấu cải lương và trong các cuộc giao lưu đờn ca tài tử.

Sân khấu cải lương ra đời không lâu, các soạn giả tiền bối đã đưa bản "Vọng cổ" vào cải lương thay cho điệu "Tứ đại oán" và thịnh hành từ sau năm 1930. Càng về sau bản "Vọng cổ" được đưa vào cải lương với số lượng nhiều hơn, được tách rời từng câu cho phù hợp với tình huống, hoàn cảnh kịch. Có lớp diễn chỉ sử dụng câu 1 và câu 2, có khi tác giả sử dụng câu 15 và câu 16, có màn thì dùng câu 3 và câu 4 hoặc câu 1 và câu 6.

Bên cạnh đó, một số tác giả còn viết trọn bài theo các loại nhịp (nhịp 2, nhịp 4, nhịp 8, nhịp 16, nhịp 32), gọi là bản lẻ và thường xuất hiện trên các hãng băng đĩa, Đài Phát thanh và Truyền hình, trong các cuộc giao lưu, liên hoan đờn ca tài tử.

Đa phần khán - thính giả thưởng thức đờn ca tài tử và cải lương chỉ mê nghe ca "Vọng cổ". Họ chờ đào - kép xuống "Hò" của câu "Vọng cổ" rồi vỗ tay, huýt sáo tán thưởng. Bài "Vọng cổ" rất dễ học ca mà không cần trải qua trường lớp. Thực tế có biết bao người không phải là nghệ sĩ nhưng vẫn có thể ca hay như nghệ sĩ. Tính phổ cập của bản "Vọng cổ" rất nhanh và rộng, đối tượng ca "Vọng cổ" không chỉ trong phạm vi Nam Bộ, mà hiện nay trên cả nước. Cũng nhờ bản "Vọng cổ", mà nhiều cuộc đời bỗng chốc đổi thay, nhiều cô thôn nữ, nhiều anh chàng "hai lúa" bỗng hóa thành những soạn giả lừng danh, thành những danh ca nổi tiếng trong đờn ca tài tử và cải lương như các soạn giả Trần Hữu Trang, Kiên Giang, Viễn Châu, Loan Thảo, Ngô Hồng Khanh, Trọng Nguyễn, cô Ba Đắc, Năm Nghĩa, Tư Sạng, cô Năm Cần Thơ, cô Ba Trà Vinh, Đệ nhất danh ca Út Trà Ôn, Sầu nữ Út Bạch Lan, cố Nghệ nhân Dân gian Bạch Huệ, Nghệ sĩ Ưu tú Diệu Hiền, và một loạt danh ca Mỹ Châu, Phượng Liên Lệ Thủy, Tấn Tài, Minh Cảnh, Minh Phụng, Vương.v.v…

Bản "Vọng cổ" đã có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng. Cố Giáo sư - Tiến sĩ Trần Văn Khê có lần thuyết trình về cái đẹp của âm nhạc Việt Nam tại thành phố Hố Chí Minh đã nói: "Bản"Vọng cổ" rất đa dạng về phong cách và phong phú về tư tưởng nội dung. Chỉ có câu chữ nhạc trong khuôn khổ nhất định mà mỗi người đờn nghe khác nhau về âm sắc, người ca nhiều hơi, kỹ thuật giọng điệu cũng khác nhau, người viết lời khác nhau tạo cho "Vọng cổ" muôn màu muôn sắc tuyệt vời." Nó cũng đã vượt đại dương đến với nhiều nước trên thế giới.

Đối với người dân miền Nam, bản "Vọng cổ" được coi như là tiếng nói, là hơi thở. Bản "Vọng cổ" đã từ thôn quê chinh phục được thành thị, để rồi từ thành thị tỏa rộng trở về khắp thôn quê. Sự ra đời của bản "Vọng cổ" vốn là biểu tượng của lòng hiếu thảo, của tình chồng vợ, nghĩa phu thê. Chính những tình, những nghĩa này đã vô tình khiến một người nghệ sĩ nông thôn trở thành cha đẻ của bàn "Vọng cổ" được công chúng yêu chuộng ngót hơn 90 năm qua. Có thể nói, tác phẩm "Dạ cổ hoài lang" (tiền thân của bản "Vọng cổ" ngày nay) của cố nhạc sỹ Cao Văn Lầu là một đóng góp to lớn đối với nền âm nhạc dân tộc. Chính tình yêu, lòng thủy chung đã giúp bản nhạc này bền bỉ với thời gian.

Phạm Thái Bình

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.