Viết văn có cần đi thực tế?

Có một câu hỏi khá thường trực với những người viết trẻ là có cần đi thực tế để viết và vai trò của thực tế quan trọng thế nào? Nó có phải yếu tố bắt buộc của sự viết không?

Rất nhiều người biết rằng Tố Hữu chưa lên Điện Biên mà viết được "Hoan hô chiến sĩ Điện Biên" rất hoành tráng và sát với những địa danh thực tế. Nguyễn Tuân chưa lên Tản Viên mà viết được "Trên đỉnh non Tản". Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ chưa đến Pác Pó mà viết được ca khúc "Tiếng hát giữa rừng Pác Pó" nổi tiếng và nhiều ví dụ khác chứng minh rằng, không cần đến đúng nơi ấy, chứng kiến sự kiện ấy mới viết được tác phẩm.

Nói như vậy, có người sẽ cho rằng tôi là người cổ súy cho văn nghệ salon, chỉ cần ngồi ở nhà, không cần đi đâu cũng viết được. Điều này chưa hẳn đúng nhưng rõ ràng đi thực tế không phải điều kiện tiên quyết để tác phẩm có tính xác thực hoặc hấp dẫn. Nó chỉ là điều kiện cần thiết và được khuyến khích. Không quá phụ thuộc vào những điều kiện thực tế, sự sáng tạo của nhà văn sẽ bay bổng và vươn xa hơn nhiều và đó cũng là một trong những đặc điểm vượt trội mà không phải môn nghệ thuật hoặc khoa học nào có thể thay thế.

Nhà văn Nguyễn Tuân.
Nhà văn Nguyễn Tuân.

Các nhà văn truyền thống rất ưa thích sự xê dịch và lãng du, nhiều nhà văn cổ điển châu Âu và Nguyễn Tuân ở Việt Nam là những người điển hình cho những kiểu này. Họ đi lại, quan sát, ghi chép và từ những thu lượm thông tin ngoài hiện trường, cuộc sống để tích lũy, tinh lọc cho những trang viết của mình. 

Trong quá trình đi thực tế, có người ghi lại tỉ mỉ mọi sự kiện, câu chuyện, người khác chỉ ghi lại những ấn tượng lớn và cũng có kiểu chỉ quan sát và lưu nhớ trong não bộ. Kiểu ghi chép tỉ mỉ tỏ ra hữu hiệu với những nhà văn chủ trương gắn liền với các hiện thực xã hội hoặc loại hình văn học đòi hỏi tính chính xác, chân thật cao như bút kí, ghi chép.

Các thể loại văn học như truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, theo tôi không đòi hỏi quá nhiều từ cuộc sống. Nó là kiểu văn học hư cấu nên phần tưởng tượng của nhà văn đóng vai trò quan trọng và quyết định. Tất nhiên những hư cấu, tưởng tượng của người viết cơ bản dựa trên những kinh nghiệm, quan sát sẵn có và quá trình tích lũy từ cuộc sống. 

Và cũng cần phân biệt những sáng tác có mục tiêu cụ thể là viết về một miền đất định danh thực tế, nghề nghiệp hoặc nhân vật có thật thì người viết cũng cần có những hiểu biết và trải nghiệm nhất định ở vùng đất ấy, tìm hiểu nghề nghiệp hoặc tiếp xúc trực tiếp với nhân vật, những cọ xát thực tế ấy đóng vai trò quan trọng.

Hiển nhiên việc tiếp thu kiến thức qua sách vở và các kênh thông tin cũng là một cách đi thực tế. Ngay cụm từ "thực tế" cũng phải mở rộng biên độ ra, nếu cho rằng thực tế nhất thiết là phải đến tận nơi, sờ tận tay, nó sẽ bó hẹp khả năng tưởng tượng và năng lực sáng tạo của tác giả. Nếu nhất thiết phải đến châu Phi mới viết được về châu lục này hoặc phải lên mặt trăng mới viết được về mặt trăng thì văn học, nghệ thuật sẽ rất tầm thường. Nó lệ thuộc vào đôi chân bám chặt mặt đất mà không tài nào cất cánh lên được.

Tôi nói thêm về một trường hợp cụ thể mà qua sách vở, phim ảnh và sự tưởng tượng được nhiều người đương nhiên chấp nhận là không thể nào đi thực tế được. Đó là sự sáng tạo về đề tài lịch sử. Rõ ràng không ai có thể sống trong quá khứ mà mình chưa trải qua. Người viết chỉ có thể tái tạo, phục dựng lịch sử qua sách vở, phim ảnh, những lời kể lại cùng sự phân tích, xét đoán, tưởng tượng của mình. 

Ví dụ chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 được ghi chép khá sơ sài trong sách sử và các câu chuyện kể. Không còn ai sống ở thời ấy để kể lại chính xác diễn biến của trận đánh. Người viết có đến thực địa cũng chỉ là một giải pháp hỗ trợ, khảo sát về địa lý. Việc miêu tả kĩ lưỡng trận thủy chiến nổi tiếng này cơ bản này dựa vào sự tưởng tượng và khả năng phân tích của nhà văn. Và người đọc tất nhiên không ai ngây thơ tới mức đặt câu hỏi với tác giả: Ông có chứng kiến sự kiện ấy đâu mà viết?

Có một thời, người ta quá coi trọng sự khảo sát thực tế. Có rất nhiều chuyến đi của hàng trăm, hàng nghìn văn nghệ sĩ đến các nông trường, nhà máy, công trường, các vùng miền núi xa xôi, nông thôn tìm tư liệu để viết. Tất nhiên kết quả của việc thực tế này là một số tác phẩm hay ra đời và có giá trị nhưng cũng nhiều tác phẩm chỉ mang tính minh họa thuần túy, quá phụ thuộc vào tư liệu hiện thực, chưa đủ tầm khái quát và tinh luyện nên chỉ có giá trị nhất thời. Đi qua những thời điểm lịch sử nhất định hoặc khi những quan niệm bị thay đổi thì những tác phẩm kiểu ấy dễ lỗi thời, lạc hậu.

Ở đây tôi muốn nói thực tế nên là một sự tinh luyện và chắt lọc, nó không nhất thiết là sự sống sượng bê nguyên hoặc mượn nguyên những gì mình thấy. Điều đó đã có báo chí và các phương tiện truyền thông khác, không cần đôi cánh của văn học nghệ thuật. 

Người nghệ sĩ cần những va chạm thực tế để biết cuộc sống, đời thực, cảm nhận nhưng anh ta không phụ thuộc hoàn toàn vào nó, sự mắt thấy tai nghe chỉ là cái cớ chắp thêm đôi cánh và bồi bổ thêm sự tự tin cho sáng tạo và tưởng tượng.

Nhà thơ Tố Hữu.
Nhà thơ Tố Hữu.

Theo quan sát của tôi, lớp nhà văn đi trước có thể do quan niệm và hoàn cảnh lịch sử, họ giàu vốn sống và va chạm thực tế hơn, đọc những người này, độc giả thường thấy tác phẩm của họ ngồn ngộn những cảnh đời, cảnh sống. 

Còn những người trẻ hơn, một phần do quan niệm về một thứ thực tế chính xác đã giảm dần và cũng do tuổi đời và những điều kiện xã hội khác, họ có ít những sự va chạm với đời sống hoặc chủ trương tìm thực tế qua sách vở, phim ảnh, các phương tiện truyền thông khác nên tác phẩm không quá nặng mô phỏng đời sống thực và thậm chí nhiều người thích thả mình vào những vùng miền xa xôi. 

Đó là mảnh đất cho kiểu tác phẩm kì ảo, quái dị phát triển vì chúng không quá đòi hỏi một thực tế sát sạt hoặc những soi xét từ phía độc giả.

Với những người ưa thích đi thực tế thì cũng cần tránh những suy diễn dung tục khi đọc tác phẩm khi cho rằng sẽ có những miêu tả không thật chính xác về một vùng đất hoặc con người nào đó nếu chúng chỉ là những phiếm chỉ hoặc biểu tượng. 

Theo quan sát của tôi, các độc giả truyền thống ưa thích những trang viết giàu tính thực tế hoặc các trải nghiệm tự thân. Họ vẫn thích so sánh những gì nhà văn viết với thực tế họ biết, trải nghiệm hoặc nghe kể. Quan điểm này sẽ dẫn đến việc ưa thích những tác giả có bề dày cuộc sống hoặc trải nghiệm. 

Mặt khác tôi cũng thấy nhiều độc giả trẻ ưa thích một lối văn phiêu lưu, nhiều tưởng tượng mà không quá quan tâm hoặc so sánh xem nó giống thực hay không. Ở điểm này, các tác giả trẻ và độc giả trẻ có nhiều điểm tương đồng về gu thẩm mĩ và sở thích.

Đến bây giờ, chúng ta vẫn thỉnh thoảng thấy những chuyến đi thực tế của các nhà văn, cá nhân hoặc đoàn thể. Dù cấp tiến và đổi mới thế nào cũng không thể phủ nhận những quan sát và kinh nghiệm từ thực tế cuộc sống và hiểu biết là rất hữu ích. Nhà văn càng nhiều trải nghiệm cuộc sống thực tế hoặc sách vở, hoặc cả hai thì anh ta càng nhiều vốn liếng và tự tin. Sự tự tin sẽ làm cho tác phẩm có tính chân thật hoặc làm tiền đề cho những hư cấu mạnh mẽ. 

Nhà văn có thực tế phong phú mà trang viết vẫn bay bổng, giàu sáng tạo thì quá trình hấp thu hiện thực đã được nhào luyện và nhuần nhuyễn. Nếu những trang viết giống y như hiện thực thì chưa chắc nó đã thể hiện được tài nghệ của nhà văn vì anh ta có thể quá phụ thuộc vào dữ liệu và vì thế trí tưởng tượng cũng như các khả năng sáng tạo cũng giảm đi.

Đi thực tế rõ ràng là cần thiết nhưng nó không còn đóng vai trò quá quan trọng nữa. Sách vở và các phương tiện truyền thông như phim ảnh, truyền hình, thông tin liên lạc đã hỗ trợ hoặc cung cấp các khả năng khác cho người viết. Có thể đối với những thế hệ trước đây đi thực tế là phần không thể thiếu trong quá trình hình thành tác phẩm, còn đối với những người trẻ hiện thời nó chỉ còn là yếu tố khuyến khích hoặc đáng tham khảo.

Văn chương, theo đà phát triển của xã hội hiện đại, càng ngày càng có những chiều kích và cách thức tiếp cận mới. Đi thực tế cũng vậy, nó trở thành một khả năng mở và nằm trong nhiều sự lựa chọn của người viết.

Uông Triều

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).