Việt Nam học và hành trình 400 cuốn hút học giả năm châu

Việt Nam học được định nghĩa là một ngành khoa học nghiên cứu về vùng đất, con người với tất cả mối quan hệ với thiên nhiên, với lịch sử và xã hội về mọi mặt, làm nổi rõ những đặc điểm, đặc thù của Việt Nam...

Từ khi ra đời đến nay, Việt Nam học không chỉ được các thế hệ học giả, nhà nghiên cứu  trong nước góp sức xây dựng, phát triển mà còn thu hút các chuyên gia, nhà khoa học quốc tế.

Vừa qua, Hội thảo khoa học quốc tế "Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay" đã diễn ra tại TP Hồ Chí Minh. Hội thảo cung cấp những vấn đề thú vị về sự phát triển của ngành Việt Nam học trên thế giới.

Sơ lược quá trình gần 400 năm nghiên cứu Việt Nam ở nước ngoài, PGS.TS Đoàn Lê Giang, Trưởng khoa Việt Nam học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh cho hay: "Những ghi chép về mảnh đất Việt Nam có thể thấy sớm nhất trong "Sử ký" của Tư Mã Thiên vào thời Tây Hán, thế kỷ 1 trước Công nguyên. Sau một chút đó là các ghi chép trong các bộ sử như "Hán thư", "Hậu Hán thư", "Ngụy thư", "Tam Quốc chí"…

Tuy nhiên, lúc bấy giờ Việt Nam chỉ được các nước trong "khu vực văn hóa chữ Hán" nhắc đến. Cho đến khi công cuộc toàn cầu hóa bắt đầu ở thế kỷ 16,  Việt Nam mới được nhắc đến nhiều hơn trong các ghi chép du ký của các giáo sĩ thừa sai, các thương nhân, các nhà thám hiểm phương Tây. Sớm nhất là cuốn "Thập kỷ châu Á, những hành động mà người Bồ Đào Nha đã thực hiện trong cuộc chinh phục và khám phá vùng biển và vùng đất phía đông" của nhà ngôn ngữ học người Bồ Đào Nha João de Barros (1496-1570), xuất bản lần đầu ở Lisbon 1563 có ghi chép về Côn Đảo của Việt Nam.

Nhưng phải đến "Xứ Đàng Trong" năm 1621 của Cristophoro Borri (1583-1632) thì mới có ghi chép mạch lạc, khoa học chuyên về Việt Nam của một người châu Âu. Do đó, có thể coi Borri là nhà "Việt Nam học" nước ngoài đầu tiên. Và thời điểm ra đời "Xứ Đàng Trong" là cột mốc để ngành Việt Nam học chính thức bước ra năm châu".

Các đại biểu trình bày tham luận tại Hội thảo quốc tế "Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay".
Các đại biểu trình bày tham luận tại Hội thảo quốc tế "Những vấn đề giảng dạy tiếng Việt và nghiên cứu Việt Nam trong thế giới ngày nay".

Đến nay, Việt Nam học không chỉ là một chuyên ngành phát triển mạnh mẽ tại các nước trong khu vực như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Nga… mà còn vươn xa đến Mỹ, Đức, Pháp… Tại đây, những công trình nghiên cứu, dịch thuật về lịch sử, xã hội, tôn giáo, văn hóa, văn học… Việt Nam phát triển mạnh mẽ.

Theo PGS Ye Shao Fei, Học viện Hồng Hà, Vân Nam, Trung Quốc, vào những năm đầu thế kỷ 21, việc nghiên cứu Hán Nôm của Việt Nam tại Trung Quốc phát triển rất mạnh, tập trung chủ yếu ở hai lĩnh vực là nghiên cứu lịch sử và văn hiến. Nhiều đề tài, công trình nghiên cứu được xuất bản, tạp chí chuyên đề về nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam cũng xuất hiện ngày càng nhiều.

Giờ đây, các tác phẩm văn chương hiện đại của Việt Nam cũng được chuyển ngữ và giới thiệu rộng rãi tại Trung Quốc.

Riêng tại Nhật Bản, cuộc kháng chiến anh dũng của nhân dân Việt Nam vì độc lập tự do kéo dài suốt mấy chục năm đã tạo nên sự quan tâm sâu sắc của giới trí thức nước này đối với lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Theo nghiên cứu của PGS. TS Đoàn Lê Giang, việc tìm hiểu về Việt Nam ở Nhật Bản khá sớm, từ đầu thập niên 1930 đã có rải rác một số công trình. Đến thập niên 1940 thì số bài viết, sách du ký, sách dịch và nghiên cứu về Việt Nam tăng lên nhiều.

Từ đầu thập niên 1960 đến nay, văn học Việt Nam được dịch, nghiên cứu, giới thiệu ở Nhật Bản với số lượng lớn và có hệ thống, đưa Nhật Bản trở thành một trong những quốc gia nghiên cứu văn học Việt Nam hàng đầu trên thế giới. Các thế hệ nhà nghiên cứu người Nhật nổi tiếng có thể kể đến: Matsumoto Nobuhiro, Takeuchi Yonosuke, Imai Akio, Shiraishi Masaya, Takano Isao…

Trong đó, công trình nghiên cứu đầu tiên về văn học cổ điển Việt Nam của học giả Nhật Bản có lẽ là "Thư mục sách Hán Nôm của trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội" do Matsumoto Nobuhiro thực hiện năm 1933. Ngoài ra, các tác phẩm nổi tiếng như "Truyền kỳ mạn lục" của Nguyễn Dữ, "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, "Nhật ký trong tù" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, "Lục Vân Tiên" của Nguyễn Đình Chiểu, các tác phẩm của Phan Bội Châu… cũng được giới trí thức đất nước mặt trời mọc quan tâm nghiên cứu sâu không chỉ về tác phẩm mà còn về cuộc đời, tư tưởng tác giả.

Phương pháp nghiên cứu cẩn trọng, chú trọng vào tư liệu, cách nhìn nhận khách quan, đồng thời áp dụng những phương pháp nghiên cứu tiên tiến, khiến cho việc nghiên cứu văn học của các học giả Nhật có những giá trị đặc biệt, có vị trí riêng so với các nghiên cứu của các nước khác. Việc chú trọng vào văn học cho thấy học giới Nhật muốn có một hiểu biết căn bản, sâu sắc về văn hóa Việt Nam.

GS Shimizu đến từ Đại học Osaka cũng đưa ra nhiều cơ sở sử liệu chứng minh tiếng Việt được biết đến và ghi lại ở Nhật từ rất sớm: giữa thế kỷ 18 qua hai bộ bút ký là "An Nam quốc phiêu lưu vật ngữ" và "Nam Biều ký".

Theo TS Đào Mục Đích, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh, nghiên cứu về Đông phương nói chung và Việt Nam nói riêng ở phương Tây được hình thành và phát triển từ khoảng thế kỷ 16-17, gắn liền với nhu cầu truyền giáo và các hoạt động tiếp xúc, giao lưu thương mại và chính trị của nhiều nước châu Âu với Việt Nam.

Trong những thế kỷ này, nhiều nhà hàng hải, nhà du hành thám hiểm, thương gia, nhà truyền giáo… phương Tây đã đến Việt Nam. Họ ghi chép lại trong các tác phẩm du ký, ký sự hay công trình nghiên cứu những điều mắt thấy tai nghe, những điều kỳ thú về đất nước, con người Việt Nam trong sự đối sánh với phương Tây. Với con mắt của những chứng nhân, họ thổi vào trong tác phẩm, nghiên cứu của mình những điều chân thực, trải nghiệm lý thú.

Ngoài Cristophoro Borri với "Xứ Đàng Trong" (1621), một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu viết về Việt Nam trong giai đoạn này còn có: Alexandre de Rhodes với "Lịch sử vương quốc Đàng Ngoài" (1650), Jean Baptiste Tavernier với "Tập du ký mới và kỳ thú về vương quốc Đàng Ngoài 1639 - 1645" (1681)…

Bên cạnh đó, các học giả phương Tây cũng công bố những công trình về tiếng Việt, ngữ pháp tiếng Việt hay những quyển từ điển tiếng Việt và tiếng nước ngoài như Alexandre de Rhodes có "Báo cáo vắn tắt về tiếng An Nam hay Đông Kinh" và "Từ điển Việt - Bồ - La".

Đến thế kỷ 18 và nửa đầu thế kỷ 19, số tác giả lẫn tác phẩm về lĩnh vực Việt Nam học giảm mạnh so với thế kỷ trước do những biến động thời cuộc về quan hệ chính trị, ngoại giao, thương mại… giữa các nước phương Tây và chính quyền phong kiến Việt Nam. Việt Nam học nói riêng cũng như ngành nghiên cứu vùng Viễn Đông nói chung chỉ chính thức trở thành một ngành học của phương Tây vào thời kỳ Pháp thuộc.

Năm 1900, Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập tại Hà Nội và sau đó trở thành một trung tâm quan trọng nhất quy tụ các nhà Việt Nam học người Pháp và phương Tây. Trong đó có nhiều học giả nghiên cứu về Việt Nam nổi tiếng như Henry Maspéro, Léonard Aurousseau, Léopold Cadière, Emile Gaspardonne…

Các ấn phẩm về Việt Nam trong giai đoạn này mang tính học thuật cao, có giá trị khoa học sâu sắc về nhiều lĩnh vực như lịch sử, dân tộc học, xã hội học, khảo cổ học, nông nghiệp, Việt ngữ học… Đến nay, nghiên cứu về Việt Nam tại Pháp trở nên rộng rãi và có nhiều thành tựu quan trọng, đặc biệt là các công trình đào sâu về lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại.

Tại Mỹ, ngành Việt Nam học bắt đầu khá muộn: hình thành từ nửa đầu thế kỷ 20 và đặc biệt trong thời gian chiến tranh ở Việt Nam. Nhìn chung, nghiên cứu Việt Nam ở Mỹ thường kết hợp với Đông Nam Á và nghiên cứu theo hướng thiên về Việt Nam thời cổ đại lẫn hiện đại.

Đội ngũ các nhà nghiên cứu về Việt Nam ở Mỹ là những nhà khoa học, giới học thuật hàn lâm, giáo sư đại học…, tiêu biểu có thể kể đến như David Marr với công trình "Việt Nam chống thực dân 1885 -1925" và "Truyền thống Việt Nam qua thử thách"; John K.Whitmore với "Việt Nam, Hồ Quý Ly và nhà Minh: 1371- 1421"; Peter B.Zinoman với "Lịch sử chế độ nhà tù thực dân Pháp ở Việt Nam 1862 - 1940" và tác phẩm dịch "Số đỏ" của Vũ Trọng Phụng sang tiếng Anh….

Dù là người đi sau nhưng các nhà khoa học Mỹ lại là những người tiên phong về việc đổi mới cách tiếp cận và phương pháp luận nghiên cứu về Việt Nam học để giúp cho ngành khoa học này có những bước tiến mới.

Việt Nam vốn được thế giới biết đến là tâm điểm cho phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa ở thế kỷ 20 và gần đây là tấm gương cho công cuộc đổi mới thành công. Đất nước, con người Việt Nam với bề dày 4.000 năm văn hiến đặc sắc trở thành đối tượng nghiên cứu thú vị và hấp dẫn với các sử gia, nhà khoa học nước ngoài.

Những nghiên cứu của họ góp phần quảng bá nét đẹp và bề dày văn hóa, xã hội của dải đất chữ S đến với bạn bè năm châu. Đồng thời, những thành tựu nghiên cứu ấy còn cung cấp cho chúng ta góc nhìn từ bên ngoài, những đánh giá khách quan của bạn bè quốc tế về chính con người, đất nước mình.

Phan Thi Uyên

Các tin khác

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Dán nhãn độ tuổi cho MV: Khi “tấm biển cảnh báo” còn bỏ ngỏ

Nếu việc dán nhãn phân loại độ tuổi đã trở thành điều kiện bắt buộc với tác phẩm điện ảnh, xuất bản... trước khi đến tay công chúng thì ở lĩnh vực âm nhạc, tấm biển cảnh báo này gần như bỏ ngỏ. Thế nên không lạ khi làng nhạc liên tục vấp phải tranh cãi vì những MV có nội dung người lớn.