Về hai bài thơ viết ở Ngã ba Đồng Lộc

Mười cô gái trinh nữ bất tử của Đồng Lộc là cảm xúc sáng tạo cho rất nhiều văn nghệ sĩ. Vì vậy thơ ca viết ở Đồng Lộc, viết về Đồng Lộc rất nhiều, trong đó có bài "Cúc ơi!" của Yến Thanh và bài "Hà ơi!" của tôi (Bùi Quang Thanh).

Sự kiện 10 cô gái thanh niên xung phong (TNXP) Hà Tĩnh hy sinh vì một quả bom Mỹ trong khi đang làm nhiệm vụ để bảo đảm giao thông ở Ngã ba Đồng Lộc đã làm rung động trái tim của triệu triệu người; nung nấu thêm quyết tâm đánh thắng quân xâm lược Mỹ và tạo thêm động lực sinh sống, chiến đấu, lao động cho nhiều thế hệ người Việt Nam.

Mười cô gái trinh nữ bất tử của Đồng Lộc cũng là cảm xúc sáng tạo cho rất nhiều văn nghệ sĩ. Vì vậy thơ ca viết ở Đồng Lộc, viết về Đồng Lộc rất nhiều, trong đó có bài "Cúc ơi!" của Yến Thanh và bài "Hà ơi!" của tôi (Bùi Quang Thanh). Hai bài thơ trên làm cách nhau 28 năm trong hai hoàn cảnh khác nhau nhưng cùng một nỗi nhớ thương về hai cô gái trẻ trong tiểu đội TNXP ấy và gần như đồng thời xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng vào năm 1996, được dư luận chú ý.

Khoảng tháng 8/1996, lúc đó tôi đang làm Chánh văn phòng Hội Văn nghệ Hà Tĩnh, được tiếp một vị khách lạ đó là anh Nguyễn Quang Vinh (nay là Nhà văn, nhà báo, đại diện Báo Lao động tại Quảng Bình). Nguyễn Quang Vinh chìa tấm giấy giới thiệu của Hãng Phim truyện Việt Nam đề nghị Hội Văn nghệ Hà Tĩnh giúp đỡ thâm nhập thực tế để viết kịch bản phim "Ngã ba Đồng Lộc". Tôi báo với nhà văn Đức Ban - Chủ tịch Hội và hôm sau cùng anh Ban, anh Vinh lên Đồng Lộc. Qua thị trấn Nghèn, chúng tôi dừng lại mua hương, hoa và rượu, thứ rượu làng Trảo Nha quê nhà thơ Xuân Diệu được cất bằng gạo nếp, trong veo, thơm ngon có tiếng rồi vào thẳng nghĩa trang 10 liệt sĩ thắp hương.

Về hai bài thơ viết ở Ngã ba Đồng Lộc -0
Mộ 10 cô gái ở ngã 3 Đồng Lộc.

Mới chớm hè mà đất trời Đồng Lộc đã khô rang, hơi nóng từ đất đai và mộ chí bốc lên hừng hực. Đốt nhang ở Đài tưởng niệm rồi, chúng tôi mỗi người một bó hương đi cắm từng phần mộ. Tôi tìm đến mộ Võ Thị Hà, cô em út của Tiểu đội hy sinh khi em vừa tròn 17 tuổi để cắm trước. Mộ Hà nằm ngoài cùng bên trái hàng thứ 2. Hình như Tiểu đội trưởng Võ Thị Tần đã cố ý sắp xếp cô em út của Tiểu đội ra phía sau để mong chia  bớt bom đạn cho cô. Cắm hết lượt cả mộ 10 cô, còn bao nhiêu hương tôi quay về mộ Hà cắm nốt và dừng lại đó khá lâu.

Đây chẳng phải là lần đầu tôi làm như vậy. Mấy năm về công tác ở làng văn nghệ tỉnh, mỗi lần có "công chuyện" anh em văn nghệ chúng tôi lại lên đây hương khói cho các cô. Làm văn phòng Hội, khách khứa, văn nghệ sĩ cả nước về hoặc đi qua Hà Tĩnh không mấy đoàn là không viếng thăm Đồng Lộc. Tôi thường đích thân hướng dẫn khách, và tôi đã "có tình riêng" với Võ Thị Hà trong sâu thẳm tâm can. Thú thực, với tôi trên đời gặp cô Hà nào cũng đẹp. Tôi nghĩ Hà của Hà Tĩnh tôi dưới mộ cũng rất xinh. Nàng thua tôi 1 tuổi, vậy mà khi tôi còn lơ ngơ đèn sách thì nàng đã ra hỏa tuyến và hy sinh anh dũng. Tôi thấy mình như nợ em một cái gì đó, vì vậy mỗi lần lên thắp hương, tôi thường lặng bên mộ Hà lâu hơn những ngôi mộ khác.

Chúng tôi làm xong thủ tục hương khói, chợt từ rừng thông phía Tây mấy con quạ đen kêu quàng quạc bay qua khu vực nghĩa trang rồi hút về một cánh rừng thông khác. Lâu lắm rồi không thấy quạ đen xuất hiện, nay lại giữa khu nghĩa trang của những trinh nữ, tiếng quạ thật thê lương, gợi một thời lũ diều hâu Mỹ gieo rắc tang thương trên chiến địa này. Một cảm xúc thương xót trào dâng trào trong tôi.

Để mặc nhà văn Đức Ban hướng dẫn Nguyễn Quang Vinh về địa hình, về sự tích, về sự ác liệt của Ngã ba Đồng Lộc thuở xưa (Đức Ban vốn là cựu TNXP ở Tổng đội 299 từng tham gia chiến đấu ở Đồng Lộc), tôi một mình ra ngồi ngoài hố bom trước cổng nghĩa trang - hố bom oan nghiệt đã vùi 10 cô gái ngày nào, và viết bài thơ "Hà ơi!" rất nhanh, như từ đâu trong sâu thẳm ký ức tuôn trào: "Chén rượu trắng chắc em không biết uống/ Khói hương thơm bay hết cả lên trời/ Giọt lệ anh rơi vào lòng đất/ Có ấm chỗ em nằm?/ Hà ơi!"…

Lên xe rời Đồng Lộc, tôi đọc bài thơ cho Đức Ban và Nguyễn Quang Vinh nghe. Hai người đều khen hay, có tình. Quang Vinh đề nghị tôi chép lại bài thơ để sau này lồng vào kịch bản. Từ bài thơ "Hà ơi!", Quang Vinh quyết định sẽ lấy tên kịch bản phim là "Vầng trăng trinh nữ".

Công ty XD đường 4 - nơi tôi công tác nhiều năm, tập hợp rất nhiều các đơn vị từng đảm bảo giao thông ở Đồng Lộc và nhiều trọng điểm nữa hồi đánh Mỹ: Đội thi công cơ giới - đơn vị có tổ xe ủi cảm tử của Uông Xuân Lý; các Tổng đội TNXP 53, 55, 299… nên có rất nhiều nhân chứng (cả vật chứng) của thời kỳ này. Tôi gợi ý cho Nguyễn Quang Vinh đến nhà anh Uông Xuân Lý, nhà chị La Thị Tám và các anh Dương Xuân Hàm, Võ Xuân Thành trong tổ Dũng sĩ lái máy ủi gạt bom nổ chậm để lấy tư liệu và tìm nguyên mẫu cho nhân vật. Vinh mừng lắm, năn nỉ tôi đưa đi. Tối đó Vinh đến nhà tôi để thực hiện kế hoạch. Khi tôi đang chép cho Nguyễn Quang Vinh bài thơ "Hà ơi!" thì Nguyễn Thanh Bính dắt xe đạp vào.

Anh Bính - sau này là nhà thơ Yến Thanh (Hội viên Hội Văn học nghệ thuật Hà Tĩnh), vốn là kỹ sư kinh tế từng làm trưởng nhiều phòng ở Công ty đường 4. Hồi Mỹ dựng tọa độ lửa Đồng Lộc thì anh Bính đã tốt nghiệp Trung cấp giao thông và được điều về làm kỹ thuật ở đây. Thanh Bính đa năng, giỏi nghiệp vụ, mồm miệng dẻo quẹo, chị em rất mê. Lúc này anh đang chuẩn bị nghỉ chờ hưu, nghe thơ tôi trên đài báo anh tìm đến tôi để khoe thơ của anh và nhờ tôi giới thiệu trên Tạp chí Hồng Lĩnh.

Thơ của Thanh Bính được chép vào một cuốn sổ tay đã rất cũ, viết bằng nhiều loại mực với nét chữ đẹp, bay bướm. Nhìn nét mực tím lòe nhòe, mực Cửu Long đã phai màu tôi biết thơ anh làm đã rất lâu. Đọc qua mấy bài lục bát thấy cũng thường, tôi định tìm cách trả lại cho anh vì Nguyễn Quang Vinh cũng sốt ruột thì thấy bài " Cúc ơi…ời…ơi". Bài thơ thể tự do, với tiếng kêu tha thiết, đau thương của một người trong cuộc đang hoảng hốt, cuống cuồng đào bới tìm đồng đội.

Không cần giải thích, tự bài thơ đã nói được ngữ cảnh lúc ấy, ngay và sau khi bom Mỹ nổ, 10 cô gái hy sinh, đồng đội đào bới tìm được thi thể 9 người và đang tìm người cuối cùng trong họ: chiến sĩ Hồ Thị Cúc. Tác giả là người trong cuộc, là người thân quen của cô Cúc, đau đớn và xúc động trước sự mất mát này, trong 3 ngày trời đằng đẵng mà chưa tìm thấy xác người em, người đồng đội: "Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang/ Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp/ Chín bạn đã quây quần đủ mặt…/ Chỉ thiếu mình em…".

Bài thơ xúc động quá. Đọc lại mấy lần, tôi chuyển cho Nguyễn Quang Vinh rồi góp ý với Thanh Bính nên sửa lại tên bài thơ là "Cúc ơi!". Nguyễn Quang Vinh cũng rất xúc động, anh xin Nguyễn Thanh Bính chép lại bài thơ này. Ít lâu sau cả hai bài thơ trên ("Hà ơi!" và "Cúc ơi!") đều được in trên Tạp chí Hồng Lĩnh, Tạp chí Văn nghệ Quân đội…và khi bộ phim "Ngã ba Đồng Lộc" ra mắt công chúng, người người xem phim đều rơi nước mắt khi cảnh cuối phim, lời bài thơ "Cúc ơi" như một tiếng gọi nghẹn ngào, vĩnh cửu của đồng đội, của nhân dân, của Tổ quốc khi mất đi những người thân yêu nhất.

Nhân Đại lễ kỷ niệm 40 năm ngày hy sinh của Mười cô gái Đồng Lộc (24/7/1968) và 61 năm Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2008), tôi xin gửi đến bạn đọc hai bài thơ trên.

Yến Thanh

Cúc ơi!

Tiểu đội đã về xếp một hàng ngang
Cúc ơi! Em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ mặt:
Nhỏ - Xuân - Hà - Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
(Chín bỏ làm mười răng được!)
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên lát cuốc chùng
Cúc ơi! Em ở đâu
Đất nâu lạnh lắm
Da em thì xanh
Áo em thì mỏng

Cúc ơi! Em ở đâu
Về với bọn anh
Tắm nước trong Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng

Chăn trâu cắt cỏ
Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn!

Ở đâu hỡi Cúc
Đồng đội tìm em
Đũa găm cơm úp
Gọi em
Gào em
Khản cổ cả rồi
Cúc ơi…ời…ơi!

                        Đồng Lộc, 25/7/1968

Bùi Quang Thanh

Hà ơi!

Chén rượu trắng chắc em không biết uống
Khói hương thơm bay hết cả lên trời
Giọt lệ anh rơi vào lòng đất
Có ấm chỗ em nằm? Hà ơi!

Mười chị em ngủ hai tám năm trời
Ngàn thông xanh như tóc em mười bảy
Cụm sả ai trồng thơm trong nắng cháy
Thay hương bồ kết bạn anh mong

Tiểu đội đã dàn hai hàng ngang ngoảnh mặt xuống đường
Hố bom Mỹ chắn ngang sâu xoáy ruột
Chị Tần thương em không cho em đứng trước
Lúc hy sinh, Hà ơi có nguyên lành?

Chẳng hiểu sao mỗi lần anh đến thăm
Hoa cỏ may níu dày hơn một chút
Những hạt ngâu màu buồn không chịu được
Cứ rưng rưng như muốn nói điều gì…

Hãy yên lòng bên các chị, ngủ đi
Đừng sợ tiếng quạ kêu
Đừng sợ bom lại nổ
Màu hoa đỏ cành bông trang bên mộ
Nhắc anh không quên được một thời
Ngã ba này, những mất mát - Hà ơi! 
             

                  Đồng Lộc, tháng 8/1996

Bùi Quang Thanh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).