(Đọc “Ly ca” của Đỗ Doãn Phương - NXB Hội Nhà văn, 2021)

Vẫn tin lắm đến ngày ta gặp lại

Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc trao hoa, bắt tay chúc mừng nhà thơ Đỗ Doãn Phương đoạt giải tập thơ “Hoan ca” nhân Ngày hội sách và văn hóa đọc tại Văn Miếu Quốc Tử Giám. Kể từ “Hoan ca” (2011) đến “Ly ca” (2021) được “chính chủ” đề tặng trang trọng cũng vừa tròn 10 năm.

Hành trình 10 năm của Phó Tổng biên tập báo Thể thao &Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam) bận rộn là thế, nhưng vẫn lặng lẽ viết, miệt mài cùng con chữ để thăng hoa cảm xúc “sinh” thêm “Tuyệt ca” và tập truyện ngắn “Một bông hồng và triệu bông hồng”. 

Ai đã từng tiếp xúc đều nhận thấy Đỗ Doãn Phương là người khá trầm tính, kiệm lời, ngại nơi ồn ã, lặng lẽ, nhủm nhỉm ở một vị trí khiêm tốn nếu là đại biểu. Còn khi đăng đàn, chủ trì họp hành, sự kiện thì anh lại ở một vị thế khác chủ động và điềm tĩnh, khúc chiết và tường minh, hóm hỉnh và thuyết phục… Doãn Phương “phân thân” hài hòa, cộng hưởng “hai trong một” của một nhà quản lý bên nhà thơ thật khéo. 

Đọc thơ Đỗ Doãn Phương điều dễ nhận thấy là cảm xúc tràn đầy dường như đã được chiết xuất qua thời gian, lắng đọng từ tâm hồn đầy nhiệt huyết, từ trái tim bận rộn “chỉ biết yêu thôi chả biết gì” chỉ chực chờ “thời cơ” thì một “ngọn lửa nhỏ” khẽ khêu khơi cũng có thể thành một “núi lửa”.

Nhà thơ Đỗ Doãn Phương.
Nhà thơ Đỗ Doãn Phương.

*

“Ly ca” là sự trở lại chầm chậm sau 8 năm ủ lửa, đủ trải nghiệm, đủ độ chín... để gửi đến bạn đọc tập thơ mới với phong cách rất nhất quán, định hình nên phong cách từ “Hoan ca”, “Tuyệt ca” đến “Ly ca”. Chàng trai làng Việt cổ Đường Lâm như có "duyên" với chữ "ca". Biết đâu đấy có thể trong hành trình “đuổi hình bắt chữ” tới, tác giả sẽ tặng bạn đọc tập thơ mới có “một…chữ ca”…

“Ly ca” là tập thơ tình gồm 61 bài thơ chia làm hai phần: “Ly ca” (37 bài) và “Khúc ca hư vô” (24 bài). Nếu “Hoan ca” là tập thơ tổng hợp tất cả những gì diễn ra trong và ngoài đời sống của nhà thơ từ gia đình, tình yêu, nghĩ suy… thì đến “Ly ca” tác giả chỉ tập trung vào chủ đề yêu của tận cùng dâng hiến, tận cùng xa xót, chia lìa… Nỗi đau ly biệt của một người đàn ông không thể gì thật hơn. Tôi đọc lắng nghe từng con chữ và thấy tập thơ hiện lên một người đàn ông yêu thành thực – thành thực với đời, với người, nhất là với tình yêu chia lìa, day dứt đến quên cả bản thân, quên mất cả “sự an toàn” thực tại. Kệ. Chỉ biết yêu si mê, đắm đuối. 

Tập thơ “Ly ca” đặt tình yêu và sự chia lìa trong mối tương quan giữa con người và vũ trụ. Thấm tinh thần Phật giáo, thấp thoáng trong “Ly ca” là “ái biệt ly khổ” - nỗi khổ tình yêu phải sinh ly, tử biệt. 

Tác giả trực diện đề cập đến nỗi đau chia ly không đậy điệm giấu giữ. Không làm duyên chữ nghĩa, bỏ ngôn từ hoa mỹ, cả tập thơ “Ly ca” giàu yếu tố tự sự. Mỗi bài thơ là một câu chuyện tình yêu được kể với muôn trạng thái: yêu đớn đau, nhớ mỏi mòn, khao khát được giao hòa, sẻ chia, mâu thuẫn giằng xé, chấp nhận thực tại “em đã lấy chồng” mà vẫn không hết buồn, hết ghen... 

“Ly ca” đi đến tận cùng của cảm giác biệt ly, gặm nhấm nỗi đau một mình khiến nhà thơ thốt lên: “Bây giờ nhìn hướng nào cũng thấy ly biệt”. Thế mới biết tình yêu trong trái tim thi nhân thật khủng khiếp. Lúc nào cũng tràn bờ. Không có giới hạn nào định vị sự chảy trôi vô tận ấy.

Tình yêu là bạn đồng hành của nỗi nhớ. Nỗi nhớ thường trực nhưng nhức trái tim. Tác giả dùng từ “nhớ” với tần suất lớn: “Nhìn thấy gì anh cũng nhớ tới em”; “Đôi mắt anh nới rộng khoảng trống trên con đường, để đổ đầy vào đó nhớ thương”; “Ngày đêm nào anh cũng nhớ tới em”; “Vì anh quá nhớ em…Cũng vì anh quá nhớ… Mà nỗi nhớ trong tim cứ đè nặng”… Nhớ khắc khoải tràn vào cả giấc mơ “Đến mức trong mơ anh cũng chỉ thấy lưng em và sau gáy”; “Trong giấc mơ anh tự hỏi, những ngày qua anh đã ở đâu rồi…/ Hay không phải là mơ, anh khuất đã lâu rồi…/ Lần về gặp em trong lành lạnh cơn mơ”; “Như vào cơn mê sâu”; “Chỉ cần em mơ, hoặc anh mơ…Ta cùng mơ, cùng gặp/ Ta cùng mơ cùng khóc”; “Anh mơ thấy em đang vứt viên than tổ ong ra góc tường nhà”…

Quên nỗi nhớ là điều không thể. Cũng vì nỗi nhớ ấy, người đàn ông yêu tự “hành hạ” mình để “lộ nguyên hình” một gã tình si “lảo đảo”, “ngồi rũ bên bờ ao”, “đi chầm chậm trên phố, “trần trụi phơi thân dưới ánh mặt trời”, “mắt dại như mắt cá”, “Thân anh đang sụt xuống…anh không thể nào thở được…Cúi nhìn mãi thế này sẽ lẫn vào đất đen”, “Anh buông xuôi, nằm duỗi dài”, “Thân lẫn vào đất đen”, “mục nát, lăn trôi”, “không còn muốn hôn hay muốn làm tình”, “Đôi chân anh cuồng khấu/ Đôi mắt anh càng lồi”, “Cả người và xe lẫn trong bóng tối quanh nhà”; “Khi bước lên bàn mổ”, “Vết cào của em trên ngực anh/ Như một đám rước rồng rắn”, “Anh tưởng mình bị gai ở chân/ Rồi lại thấy bị đau ở bụng”; “Trên trời, dưới đáy đều là vực sâu”…

“Ly ca” thể hiện bao cung bậc. Yêu đến mụ mị, yêu không còn ý niệm thời gian, không gian: “Anh tiễn em đi một quãng đường/ Anh chẳng tới đây là dài hay ngắn”. Yêu khiến người đàn ông tâm thức nhớ, quên: “Dừng xe trên cây cầu không biết tên/ Phía dưới là dòng sông gì anh càng không biết”… Yêu khao khát có “cơ hội trông thấy nhau”, để “được em nhìn trong nhục nhãn đời này”… Chỉ cần thế, anh dám “đánh đổi” tất cả, tự hành hạ mình dẫu thân “lẫn vào đất đen”, “mục nát, lăn trôi”... 

“Ly ca” khẳng định tình yêu vĩnh cửu “Yêu miết giữa thiên thu”; “Đi đến tuần chung thất/ Mở mắt ta tìm nhau”; “Tìm nhau giữa thiên, địa, nhân”; “Bơ vơ cả cõi đời/ Cho tới ngày cùng tận”… Xót xa trước câu chuyện thời sự mới đây về “đôi trai gái trốn đi và chết trong hang núi/ Giờ còn hai bộ xương vẫn nắm tay nhau”, nhà thơ chạnh lòng nghĩ về chúng ta đã “buông nhau, quay về/ Tiếp tục sống theo cách mọi người vẫn sống… Thịt da lại thấm đậm mồ hôi mình… Dưới lớp thịt da, bộ xương của chúng ta vẫn bền bỉ cử động”. Có “Một Khau Vai trong số phận chúng mình” (Trần Hòa Bình) hiện hữu: “Đến khi chết cũng chẳng cho ai biết rằng/ Chỉ là sập xuống một ngôi đền tự dựng”. Phải chấp nhận “một cuộc sống không có nhau” dẫu tiếc nuối là rất thật “từ cái ôm anh không được ôm”, “từ đôi tay anh không được nắm”… Đúng là “Nợ tình chưa trả cho ai/ Khối tình mang xuống tuyền đài chưa tan” (Truyện Kiều).

Bìa tập thơ “Ly ca” của nhà thơ Đỗ Doãn Phương.
Bìa tập thơ “Ly ca” của nhà thơ Đỗ Doãn Phương.

Biết người đã về tận phía kia, nhưng khi lắng lại, thi nhân chất vấn độc thoại “Sao phía này mi vẫn ngóng bóng?”, “Sao nơi này mi vẫn lắng tiếng vang?”, “Sao mi vẫn vào chờ sâu trong núi?” và tự “an ủi” mình “Rằng đời này không còn chỗ gặp mặt/ Thì kiếp sau chỗ nào cũng là chỗ hẹn hò”. Nhà thơ đã lý giải cảm xúc có lúc mâu thuẫn ấy là “lời hứa đến phút cuối vẫn yêu em”. Yêu em càng nhiều mong em hạnh phúc càng lớn. Tôi bỗng thấy tác giả có chung niềm mong ước nhân văn “Cầu cho em được người tình như tôi đã yêu em” (Puskin). Thật diễm phúc nàng thơ nào đã làm tác giả yêu mê đắm, “điên cuồng”, rồ dại để hát khúc “Ly ca” xúc động đến thế. 

*

Sau một hồi theo cánh diều no gió, mải mê đến tận cung trăng, mơ mẩn cùng nàng “áo xanh” thì cũng đã đến lúc thi nhân biết phải “tiếp đất” đối mặt với đời thường “cơm áo đâu đùa với khách thơ”, đưa con đến trường, đưa vợ đi shoping… để cho ấm áp “ngôi nhà và những đứa trẻ” và “giàn thiên lý” không đổ. Tỉnh táo để qua cơn mê sảng, phân định, khẳng định:

“Không bao giờ anh muốn đánh đổi gì để được có em
Vui buồn mỗi người ngày hôm nay là điều phải xảy đến
”.

Đàn ông luôn khôn ngoan sau “Những giây phút xao lòng” tự “kiểm điểm” thấy mình có lỗi để “Sau những lần nghĩ đến đâu đâu mình thương vợ mình hơn” (Thuận Hữu).

Còn bao điều muốn nói với “Ly ca”, tôi xin mượn lời của nhà văn Nguyễn Ngọc Tư khi đọc tập thơ này: “Lâu lắm rồi mới thấy người đàn ông (trong thơ) cổ điển và thuần khiết tới vậy, đau đớn vì người tình đã chồng con và đau đi đau lại bởi vì mỗi chuyện ấy. Đến nỗi tôi còn nghĩ vui rằng cũng cô đấy, hay nhiều cô khác. Cảm giác, yêu thôi chưa đủ, mà yêu đến cả hai con người thành một. Và mọi sự chia xa dù ở thể chất hay tinh thần, vết thương hở ấy cũng là quá sức”…

Lê Thị Bích Hồng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).