Tượng Tuyết Sơn ở Đồng bằng Bắc bộ

Tượng Tuyết Sơn bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVII ở các chùa vùng Đồng bằng Bắc bộ Việt Nam. 

Trước thời điểm đó các chùa còn tồn tại đến bây giờ đều không thấy có tượng Tuyết Sơn. Chỉ có một số chùa bắt đầu xây dựng vào thế kỷ XVII - XVIII về sau mới thấy  xuất hiện tượng Tuyết Sơn hoặc một số chùa được phục dựng lại. Trong đó tiêu biểu là các chùa: Chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Keo (Thái Bình), chùa Mía, chùa Trăm Gian, chùa Tây Phương (Hà Tây cũ)... là những ngôi chùa có bề  dày về lịch sử, văn hóa của người Việt qua các thời kì.

Khái quát hình tượng Tuyết Sơn

Trong giai đoạn thế kỷ XVII, đạo Phật có điều kiện phát triển trở lại. Nhiều chùa mới được xây dựng, nhiều ngôi chùa cũ được sửa chữa và tu bổ. Thế kỷ thứ XVII, Phật giáo đã có bước phát triển mạnh và có thể coi là đỉnh cao thứ 2 của nghệ thuật Phật giáo sau thời kỳ Lý - Trần. Kinh Phật được dịch ra tiếng Nôm để lưu hành. Triều đình nhà Lê cũng ủng hộ Phật Giáo, các sư tăng được coi trọng. Nhiều bà hoàng, công chúa và các hoàng thân bỏ tiền của, công sức huy động mọi người xây dựng, tạc tượng để thờ Phật.

Ở thời Lê Trung Hưng nhiều ngôi chùa được trùng tu, dựng lại mới trong đó có chùa Keo (Thái Bình), chùa Ngọc Khám, chùa Bút Tháp (Bắc Ninh), chùa Thái Lạc (Hưng Yên), chùa Thầy, chùa  Mía (Hà Tây cũ)…

Cùng với sự phát triển về tôn giáo nên việc xây dựng kiến trúc và tạo tác tượng phát triển mạnh. Đặc biệt trong chùa lúc này xuất hiện thêm nhiều pho tượng liên quan đến Phật Giáo như tượng Quan Âm, tượng Kim Cương, tượng La Hán và nhiều tượng Phật khác, đặc biệt  trong đó hình tượng Tuyết Sơn cũng bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này.

Tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương (chất liệu gỗ phủ sơn).
Tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương (chất liệu gỗ phủ sơn).

Có lẽ đây là hình tượng gần gũi đối với người dân Việt, bao năm chịu đói khổ, tuy là tạo hình một vị tu hành sắp thành Phật nhưng lúc này là giai đoạn tu khổ hạnh của ngài nên thân hình gày gò, ốm yếu. Tượng xuất hiện trong chùa thứ nhất là để ghi lại dấu ấn cuộc đời tu hành của đức Phật Thích Ca, thứ hai là để nhắc nhở nhà sư và phật tử cách thức tu hành rằng dù khó khăn gian khổ thế nào cũng không thắng được ý chí của con người, có đói khổ cũng phải giữ được thân tâm trong sạch, không để các cám dỗ vật chất làm lu mờ ý chí.

Tuy nhiên, con đường tu khổ hạnh là tự hành xác, ép bản thân phải chịu đau khổ cũng không phải là con đường để đạt tới giác ngộ. Sau giai đoạn này đức Phật Thích Ca đã tìm ra được con đường tu để đạt tới giác ngộ, giải thoát đó là con đường trung đạo. Hình tượng Tuyết Sơn xuất hiện vừa mang tính chất giáo dục, vừa mang tính chất tưởng nhớ ân đức của đức Phật Thích ca.

Về bài trí tượng Tuyết Sơn

Tượng Tuyết Sơn trong các ngôi chùa Việt thường ở trong thượng điện, ở vị trí bên phải hoặc bên trái ba pho tượng Tam thế, như ở chùa Bút Tháp tượng Tuyết Sơn được bày ở gần tượng Quan Âm Tọa Sơn phía bên tay trái từ cửa nhìn vào và thấp hơn bộ tượng Tam Thế. Còn ở chùa Keo (Thái Bình), tượng Tuyết Sơn được xếp ở gian bên phải nhìn từ cửa chính vào trong thượng điện; ở chùa Mía tượng lại không được bày trong Thượng Điện mà được bày ở nhà Hậu đường cùng với ban thờ Mẫu, Quan Công, Động Nam Hải; ở chùa Tây Phương cũng có cách bày khác hẳn so với các chùa trên, đức Thích Ca thành đạo được thay bằng tượng Tuyết Sơn.

Thông thường, trong Phật Điện lớp thứ ba là bộ tượng Nhất Phật nhị Tôn giả gồm có tượng đức Thích Ca thành đạo ở giữa, bên trái là tổ thứ nhất Ca Diếp Tôn Giả và bên phải là tổ thứ hai A Nan Dà Tôn Giả. Như vậy có thể thấy tượng Tuyết Sơn được bày theo nhiều cách phù hợp với kích thước và kiến trúc từng ngôi chùa và được bày thấp hơn với các tượng Phật đã thành đạo và tượng Phật Tam Thế.

Tạo tác tượng Tuyết Sơn

Tượng Tuyết Sơn ở thế kỷ XVII - XVIII thường được tạo tác bằng các chất liệu quen thuộc giống với các tượng Phật Giáo thời kỳ này, thông thường giai đoạn này tượng thường được làm bằng gỗ phủ sơn hoặc là đất giã với vôi, giấy dó rồi đắp phủ sơn.

Đối với tượng gỗ phủ sơn: Tượng gỗ cổ truyền đều là tượng thờ vì thế hầu như chỉ được làm bằng gỗ mít. Các đồ thờ bằng gỗ như hoành phi, câu đối, hương án, ngai, bài vị … sau khi tạo dáng đều sơn thếp vì thế đều phải làm những loại gỗ ưa sơn như mít, giổi, mỡ… mà tuyệt đối không làm bằng các loại gỗ tư thiết (đinh, lim, sến, táu), tuy bền nhưng lại rất kỵ sơn, chỉ một thời gian ngắn sẽ làm cho sơn bong ra.

Mặt khác, có lẽ các nghệ nhân xưa chọn gỗ mít cũng vì gỗ mềm, tiện cho việc đục đẽo tạo hình mà ít bị mối mọt. Cây mít thuộc loại cây thiêng có nguồn gốc từ trong văn hóa Ấn Độ với tên gọi Para mitra, khi du nhập vào đời sống văn hóa Việt Nam được gọi tắt là mít. Gỗ mít dùng để tạc tượng, tiện khuôn đóng oản và làm nhiều đồ thờ khác. Một số ngôi chùa và đình thời Mạc (hoặc muộn hơn nhưng có dùng lại một số thành phần kiến trúc thời Mạc) thì chúng ta thường gặp gỗ mít.

Để tạc tượng gỗ, người ta thường đốn những cây mít già, ngâm vài tháng sau đó bóc vỏ rồi pha cắt theo kích thước của tượng. Nếu thân cây gỗ vừa với cỡ tượng thì người thợ chỉ việc đẽo bỏ đi những chi tiết nhô ra nhiều (như thế tay tượng Tuyết Sơn chùa Tây Phương) thì phải ghép nối cốt của pho tượng, lại gắn sơn sống vào những chỗ ráp nối cho liền khối. Có khối lượng ổn định sau đó tiến hành tạc theo mẫu: tượng tạc xong rồi mới chuyển sang khâu sơn thếp.

Tượng Tuyết Sơn chùa Bút Tháp (chất liệu gỗ phủ sơn).
Tượng Tuyết Sơn chùa Bút Tháp (chất liệu gỗ phủ sơn).

Đối với tượng làm bằng đất phủ sơn nguyên liệu làm tượng thường là đất sét có pha thêm các chất phụ gia là nước vôi, nhựa cây, mạt mùn cưa nhỏ, vỏ trấu, giấy bồi, rễ si hoặc dứa dại… Đất sét có ở khắp nơi, chỉ cần đào hết lớp đất canh tác là đến đất sét, tùy từng nơi mà đất sét có các màu khác nhau do tạp chất oxit sắt , oxit mangan và các chất hữu cơ. Khi đắp tượng, bột đất sét phải nhào trộn với các phụ gia. Nước vôi được lọc bỏ cặn dùng để nhào bột đất, có thể cho thêm nhựa các cây có vị đắng vào nước vôi, như thế sẽ tăng thêm độ kết dính của đất sét bột, chống được mối, lại khử được màu của các oxit làm cho đất trở nên trắng ra. Giấy bản được nhồi vào làm cho đất sét dai hơn, giữ được độ ẩm lâu hơn khi nặn tượng, khi khô lại giúp cho tượng đỡ bị nứt. Mùn cưa và vỏ trấu pha vào sẽ làm cho đất sét xốp, khi khô ít bị co nứt.

Tỷ lệ nguyên liệu làm tượng sau khi pha chế thường là 70% đất sét và 30% phụ gia. Tuy nhiên ước tính theo thực nghiệm thì không hoàn toàn chuẩn xác. Thông thường, khi đắp tượng, công việc đầu tiên là xác định khối tượng định đắp ở tư thế nào, đứng hay ngồi mà dùng tre già ngâm, chẻ thành từng thanh hay cành gỗ mít ngâm bóc vỏ, phơi khô, đan dựng thành hình bộ xương, tức là cốt tượng. Sau đó dùng hỗn hợp đất sét đã được luyện, đắp thịt vào bộ xương dần từng lớp, cho đến khi được khối hình cơ bản đứng vững tạm dừng chờ khô dần thành khối đông đặc. Ổn định phần bên trong tiếp tục đắp những khối lớn, khối phụ và các chi tiết. Xong ủ cho khô dần đều để tránh sự co ngót đột ngột gây rạn nứt. Khi tượng cơ bản đã hoàn thành, người thợ làm những công đoạn gia công cuối cùng của cốt tượng là gọt, tỉa cái chi tiết, đánh bóng mảng khối.

Cả hai chất liệu gỗ và đất để làm tượng thờ nói chung và tương Tuyết Sơn nói riêng, khi đã tạo hình xong phần điêu khắc đều được sơn son thếp vàng lên tượng. Ngoài tác dụng làm cho tượng đẹp sống động linh thiêng trong không gian chùa tượng cần được bảo quản và bảo dưỡng tốt, độ ẩm của không khí và mối mọt không tiếp cận được với lõi gỗ hay đất.

Cùng với sự liên hệ các hình ảnh cấu trúc cơ thể con người thực tế, các nhà điêu khắc đã tạc nên những tác phẩm tượng Tuyết Sơn sống động của đường nét, cấu trúc cơ khối giống với cấu trúc con người ngoài đời. Do đó có thể nhận định tạo hình tượng Tuyết Sơn giai đoạn này đều được thống nhất theo phong cách vừa hiện thực vừa loại hình hóa. Như vậy tượng Tuyết Sơn ở các ngôi chùa tiêu biểu trên, cho thấy hình ảnh vừa linh thiêng mà lại gần gũi. Có các nhân tướng của nhân vật nhưng lại là hình ảnh con người Việt ở từng vùng miền ẩn giấu trong đó.

Nguyễn Thị Thu Hương

Các tin khác

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" - một thời đã qua của Trương Vân Ngọc

"Phăng đỏ" là tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Trương Vân Ngọc (sinh năm 1973, quê Hưng Yên, hiện công tác tại Hà Nội)  viết về đề tài hình tượng người chiến sĩ Công an nhân dân, sách đoạt giải C cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện ký đề tài "Vì An ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" do Bộ công an và Hội nhà văn Việt Nam tổ chức năm 2025, được Nhà xuất bản Công an Nhân dân tuyển chọn và ấn hành tháng 12 năm 2025.

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Tiểu thuyết lịch sử: Dấu ấn trong đời sống đương đại

Trong đời sống văn học, có một dòng chảy lặng lẽ nhưng lại đóng vai trò khá quan trọng trong đời sống, đó chính là tiểu thuyết lịch sử. Lấy chất liệu từ lịch sử, tái hiện lịch sử qua những trang văn chính là những đóng góp thầm lặng, tích cực của các nhà văn cho bề dày truyền thống văn hóa nước nhà...