Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ - những "thương lượng" giữa ký ức và hiện tại

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, quê Quỳnh Côi, Thái Bình. Ông đã in 10 tập truyện ngắn và tiểu thuyết, được trao các giải thưởng truyện ngắn của Tạp chí Văn nghệ quân đội, Hội Nhà văn Việt Nam và Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2022.

Nguyễn Văn Thọ với gương mặt văn xuôi khá dữ dội, đã có nhiều truyện ngắn và tiểu thuyết đầy ám ảnh, thấm đẫm trải nghiệm nhân sinh về số phận con người, góp một tiếng nói độc đáo trong dòng chảy văn chương đương đại.

Trong các truyện ngắn của ông, ta thấy sự trải nghiệm trực tiếp chiến trường đã trao cho Nguyễn Văn Thọ một "điểm nhìn cựu binh" vừa thấm thía vừa tiết chế. Ông không “huy hoàng” hóa chiến tranh, cũng không bi lụy hóa nỗi đau, thay vào đó, ông bền bỉ đưa trọng tâm về phận người với những vết thương âm ỉ, những thương lượng giữa ký ức và hiện tại để sống tiếp.

"Mùi thuốc súng" - Ký ức chiến tranh rỉ máu

Trong nhiều truyện ngắn của Nguyễn Văn Thọ, chiến tranh không chỉ là bối cảnh lịch sử mà là một chất thể thấm vào cơ thịt, một "mùi vị" cụ thể đột khởi của ký ức. Truyện ngắn "Mùi thuốc súng" vì thế không đơn thuần là nhan đề, nó là chìa khóa mở cảm giác, là cơ chế kích hoạt dòng hồi ức đứt nối, đẩy nhân vật vào những vòng tái hiện vừa mê sảng vừa tỉnh táo.

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ - những
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ.

Người lính đặc công "đốt" chút thuốc nổ TNT như một nghi thức hóa giải lo âu khi mùi khét, ngai ngái của chất nổ lẫn với "mùi máu" của kẻ thù lẫn đồng đội đã "ngấm vào từng tế bào" qua "mười một năm, biết bao trận đánh" và cứ thế trở thành thứ ký ức của thân thể, một thứ "mùi bi hùng của đời lính" bám riết các trang văn của ông.

Từ "mùi vị" ấy, truyện mở ra đời sống hậu chiến với những mất mát khốc liệt khi hôn nhân rạn vỡ, gia đình đứt gãy, lòng người chênh vênh trước một trật tự đạo đức mới. Thi pháp Nguyễn Văn Thọ vì vậy nằm ở tổ chức điểm nhìn và nhịp kể xoay quanh ký ức và hiện tại với giấc mơ trên tàu, một động tác đốt thuốc nổ, một vệt khói hay một mùi hương… tất cả cùng kéo nhân vật và người đọc qua những lát cắt thời gian, nơi chiến tranh vẫn tiếp tục "ở lại" trong hòa bình.

Trong truyện "Mùi thuốc súng", thỏi TNT "hình bánh khảo, màu vàng" được nhân vật nâng niu như kỷ vật. Mỗi lần cạo vài hạt thuốc nổ và châm lửa Zippo, "một mùi thơm bay ra… đánh thức tất cả thần kinh" là một dấu hiệu cắt cảnh, chuyển pha từ hiện tại bức bối sang miền hồi ức lồ lộ. Ở cấp độ thi pháp, đây là "điểm nhấn cảm giác" tổ chức trục thời gian, cho phép mạch kể lật qua lại nhịp nhàng giữa ký ức trận mạc và hiện cảnh hậu chiến.

Mạch truyện ấy bao giờ cũng đi kèm ánh sáng chớp nhoáng "ánh sáng trắng trong đêm chói lòa" và sức ép khủng khiếp khi chất nổ bùng lên. Tổ hợp "mùi-lửa-khói-ánh chớp" khiến ký ức không chỉ được kể lại bằng lời mà bằng cảm giác, ký ức "đánh vào thần kinh" hơn là diễn giải bằng lý trí, và vì thế độ ám ảnh của chiến tranh trong văn Nguyễn Văn Thọ đạt một cường độ rất thể xác.

Đáng chú ý, mùi thuốc súng vừa là "mê lực" gây nghiện như một thứ an thần nghịch lý, vừa là mùi gây chấn thương cho người khác. Khoảnh khắc người phụ nữ thảng thốt nhận ra "cái thứ giết người" từng thiêu chồng bà, người lính buộc phải ném kỷ vật xuống biển. Từ đây, mùi ký ức riêng tư trở thành chứng tích tội ác trong ký ức cộng đồng, hành vi "liệng thật xa" là một nghi thức giải độc ký ức, đặt cái tôi cá nhân vào đạo lý chung của những người đã mất.

Nhân vật trung tâm của "Mùi thuốc súng" trở về sau mười hai năm, mang theo giấc mộng hòa thuận "thầy, u, vợ và đứa con gái chưa biết mặt". Nhưng hòa bình trong đời sống riêng không diễn ra khi người vợ đã đổi thay, một cảnh "chém hai buồng chuối" là một hình ảnh táo bạo, biểu tượng hóa sự tàn phá của bạo lực âm ỉ trong gia đình, từ đó đẩy nhân vật vào chỗ "không thể chịu được nữa", viết đơn ly dị và lặng lẽ bơi qua sông cùng con gái trong đêm. Ở đây, chiến tranh không bùng nổ bằng bom đạn mà "rỉ máu" qua những "kẽ nứt" của đời sống, khiến tha thứ trở thành một cuộc chiến mới, khốc liệt hơn vì nó không có ranh giới thiện, ác rạch ròi.

Điểm sáng nhân văn của truyện nằm ở mệnh lệnh "Phải sống!" được lặp lại như một điệp khúc và nâng tầm thành tuyên ngôn đạo đức hậu chiến. "Phải sống" cho mẹ già, cho đứa con và cả "đứa kia là em ruột của anh", một trớ trêu ngặt nghèo nhưng cũng là một điểm tựa để vượt qua hận thù. Nhịp điệp từ dồn dập đánh dấu bước chuyển từ trầm uất sang hành động, từ đắm đuối cái tôi sang trách nhiệm với người khác.

Truyện ngắn Nguyễn Văn Thọ - những
Bìa các tác phẩm đã in của nhà văn Nguyễn Văn Thọ.

Sau những năm chênh vênh, nhân vật chọn quay lại vùng chiến trường cũ, nhận lấy một công việc ở tờ báo thành phố, dựng lại đời sống tối giản bên sông Hàn. Đoạn văn về tượng đài Bà mẹ Âu Cơ được đặt đúng thời điểm "thành phố khánh thành", như để nối ký ức cá nhân với ký ức Tổ quốc - biển lớn của cộng đồng có thể là nơi tẩy rửa một phần vết độc mùi thuốc súng trong mỗi người.

"Nhà ba hộ" - lát cắt sắc lạnh của đời sống hậu chiến

 Rời vùng bom đạn, Nguyễn Văn Thọ có những truyện ngắn đặt trong không gian thị dân chật chội, nghèo khó thời bao cấp. Thi pháp ở đây là thi pháp của "tiểu tiết sinh hoạt", lấy cái vụn vặt để soi phần bất an hiện đại với mỹ học đời thường giàu sắc quan và những chi tiết ấy làm ký ức chiến tranh và hậu chiến có trọng lượng, như "dính" vào da thịt người đọc. Ở nghĩa ấy, "mùi thuốc súng" không chỉ là mùi đạn bom quá khứ mà còn là mùi ám của ký ức bám theo đời sống hôm nay.

Trong số những truyện ngắn viết về đời sống sau chiến tranh, "Nhà ba hộ" của Nguyễn Văn Thọ luôn được nhắc đến như một "góc máy đặc tả" mạnh bạo và không hề nhân nhượng. Tác phẩm không minh họa hiện thực, mà phơi bày nó trong trạng thái gần như nguyên bản: trần trụi, bức bối và đầy mùi vị của đời sống thật. Với không gian chật hẹp như phóng chiếu một xã hội đang loay hoay tái thiết. Ba gia đình chen chúc trong một căn nhà "ba hộ" không chỉ là một lựa chọn không gian, mà là cách tác giả nén cả xã hội hậu chiến vào một khung hình.

Một Hà Nội thời bao cấp hiện lên với những mảng tường ẩm mốc, những tiếng động lọt qua vách, những va đập vô tình giữa người với người. Không gian ấy khiến các nhân vật như bị tước mất riêng tư, và cùng lúc phơi bày trọn vẹn những bí mật đời sống mà họ vốn muốn che giấu. Nhưng điều đáng nói hơn là, khi vật chất bị thu hẹp, tâm lý con người phình nở thành những bi kịch khó gọi tên với bi kịch sau chiến tranh không nổ súng nhưng vẫn đau âm ỉ.

Nhân vật "tôi", một người lính trở về, chứng kiến cuộc sống gia đình mình rạn nứt từng ngày vì nghèo đói, bệnh tật và sự bất lực trước đời thường. Chiến tranh đã qua, nhưng hòa bình không trả lại cho họ bình yên. Ở một tầng nghĩa khác, "Nhà ba hộ" là bản ghi chép chân thực về một thế hệ "không kịp lớn" cho đời sống mới, khi những giá trị truyền thống bị lung lay trong cơn xoay vần của cơm áo.

Cũng trong không gian ấy, ba gia đình mang một nỗi niềm riêng với ba thân phận, ba cách sống, nhưng cùng chung một điểm, họ đều là những người yếu thế trước đời sống đô thị nghèo nàn. Nguyễn Văn Thọ có biệt tài với ngôn ngữ kể chuyện sắc lạnh, chi tiết giàu sức khơi gợi cảm giác. Những mùi tỏi, mùi lòng lợn, tiếng cãi vã xuyên vách… không chỉ gợi tả bối cảnh, mà trở thành ngôn ngữ biểu tượng. Chính các chi tiết này tạo ra sức nặng hiện thực mà không cần những phát biểu lên gân.

Giọng kể ngôi thứ nhất của "tôi" vừa tỉnh táo vừa xót xa, đôi khi như một phóng viên ghi chép hiện trường, đôi khi lại trượt sâu vào miền ký ức. Cách kể không tuyến tính giúp truyện mang dáng dấp một phóng sự ký ức, nơi hiện thực và hồi niệm giao thoa liên tục. Điều thú vị trong truyện không nằm ở sự cãi vã hay va chạm, mà ở cách tác giả để các nhân vật tự "thở", tự bộc lộ bản chất mà không cần tô màu. "Nhà ba hộ" vì thế không chỉ là một câu chuyện đời tư, nó mở ra một câu chuyện xã hội khi mỗi cá nhân là một mảnh vụn của thời đại, và sự đổ nát không chỉ đến từ nghèo đói mà còn từ sự thiếu hụt khả năng hàn gắn.

Trong bối cảnh văn học viết về hậu chiến còn nhiều mỹ lệ hóa, "Nhà ba hộ" đem đến một cái nhìn thẳng thắn, đôi khi tàn nhẫn nhưng luôn nhân văn. Nguyễn Văn Thọ không "tô đậm nghèo khổ" để gây thương cảm, ông chỉ đặt các nhân vật vào đúng hoàn cảnh của họ và để đời sống tự cất tiếng nói. Điều đó cho thấy hiện thực như nó vốn là, và nhắc người đọc về những năm tháng một thế hệ đã phải vật lộn để học cách sống giữa miền đời bình thường.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).