"Truyện Kiều" đã có phiên bản tiếng Nga

Nhân dịp kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du, vừa qua, Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam và Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã phối hợp ra mắt tác phẩm "Truyện Kiều" bằng tiếng Nga. Ở phiên bản tiếng Nga, tác phẩm vẫn được mang tên là "Kiều" và có tên thứ hai là "Đoạn trường tân thanh". Với bản dịch tiếng Nga lần này, "Truyện Kiều" của đại thi hào Nguyễn Du đã được dịch ra 20 thứ tiếng với 35 bản dịch khác nhau, góp phần không nhỏ để độc giả các nước trên thế giới hiểu thêm về một tác phẩm văn học độc đáo trong kho tàng văn học Việt Nam

Người có sáng kiến và phụ trách dự án dịch "Truyện Kiều" sang tiếng Nga là Tiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng, nhà thơ, tác giả của nhiều cuốn sách. Từ cuối năm 2013, nhóm dịch giả đã bắt đầu tiến hành việc dịch thuật và Tiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng đã trực tiếp tham gia hiệu đính cuốn sách. Dịch nghĩa văn xuôi là dịch giả Vũ Thế Khôi - Nhà giáo Ưu tú, một trong những chuyên gia văn học và tiếng Nga hàng đầu ở Việt Nam. Người dịch thành văn bản thơ tiếng Nga là Vasili Popov, một nhà thơ trẻ đã thành danh ở Nga (Vasili Popov sinh năm 1983, Thư ký Ban chấp hành Hội Nhà văn Nga). Phần hiệu đính và dịch thuật của dự án này do dịch giả Đoàn Tử Huyến và nhà Việt Nam học người Nga Anatoli Socolov, Phó giáo sư Ngôn ngữ học thực hiện.

Theo nhận định của một số chuyên gia tiếng Nga tại buổi ra mắt "Kiều" bản tiếng Nga, nhà thơ Vasili Popov đã chuyển tải tương đối chính xác và rõ ràng sự phong phú của kiệt tác văn học Việt Nam sang tiếng Nga. Chia sẻ về quá trình dịch tác phẩm "Truyện Kiều" thành văn bản thơ tiếng Nga, nhà thơ Vasili Popov đã chia sẻ tại buổi lễ ra mắt sách: "Được dịch "Kiều" là một vinh dự của tôi. Chúng tôi nhận thấy "Truyện Kiều như một "Yevgeniy Onegin " (tiểu thuyết bằng thơ của Puskin). Để dịch tác phẩm này, tôi đã phải tìm hiểu rất nhiều về tác giả, tác phẩm, bối cảnh xã hội phương Đông trước đây, về các tư tưởng, giáo lý về nam - nữ thời phong kiến. Sau khi dịch "Kiều" tôi thấy mình trở thành một con người khác!".

Bìa “ Truyện Kiều” bản tiếng Nga.
Bìa “ Truyện Kiều” bản tiếng Nga.

Tiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng đã trích dẫn câu thơ "Công trình kể biết mấy mươi" để nói về sự "gian truân" trong quá trình dịch tác phẩm này sang tiếng Nga. Nhóm dịch giả đã phải vượt qua "trùng trùng điệp điệp" điển tích điển cố lớn nhỏ (trong "Truyện Kiều" có tới 3.236 điển cố, điển tích, thành ngữ, tục ngữ, các cụm từ Hán -Việt). Các dịch giả cùng với những người hiệu đính đã cố gắng để diễn giải sao cho ngắn gọn mà độc giả tiếng Nga có thể hiểu được, "cảm" được cái hay, cái đẹp của "Truyện Kiều".

Tiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng chia sẻ: "Vì bản dịch Truyện Kiều không phải là một quyển sách tra cứu, nên chúng tôi không có kỳ vọng chú thích toàn bộ mà cố gắng diễn giải ngay trong từng câu thơ, giúp các độc giả nắm bắt được ý nghĩa nội dung. Chỉ những điểm thật cần thiết nhất, chúng tôi mới chọn lọc để chú thích, chú giải".

Tiến sĩ Nguyễn Huy Hoàng chia sẻ thêm: "Điều quan trọng nhất chúng tôi xác định là không phải là giải mã, chuyển nghĩa thông thường, mà mục đích cuối cùng phải đạt tới là làm sao để có một bản dịch nghĩa sát với nguyên bản, một bản dịch thơ hoàn chỉnh, chuyển tải được trọn vẹn nội dung Truyện Kiều mà không làm mất đi vẻ đẹp nghệ thuật của tác phẩm nổi tiếng bậc nhất trong văn học Việt Nam. Đây là một công việc khó khăn, nặng nề và đầy trách nhiệm của các dịch giả.

Trong quá trình dịch Truyện Kiều, chúng tôi tuân thủ theo một tiến trình mang tính nguyên tắc sau đây: "Sau khi dịch Truyện Kiều ra văn xuôi, sẽ được hiệu đính lần thứ nhất; sau khi hiệu đính xong lần thứ hai, lúc đó mới dịch ra thơ. Bản dịch thơ sẽ được đối chiếu với bản dịch văn xuôi một cách kỹ lưỡng và thận trọng trên cơ sở trao đổi, góp ý và cuối cùng thống nhất ý kiến. Đặc biệt là, số câu thơ trong bản dịch tiếng Nga không tương đương với văn bản gốc Việt nên việc đánh số các câu thơ trong bản tiếng Nga chỉ là nhằm giúp người đọc theo dõi nội dung của truyện thơ và dễ đối chiếu với văn bản tiếng Việt".

Ngoài những công việc "bếp núc" đầy khó khăn trên, nhóm dịch giả còn chịu thêm áp lực phải ra mắt "Truyện Kiều" đúng tiến độ, tức là trước lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại thi hào Nguyễn Du sẽ được tổ chức trang trọng tại quê hương nhà thơ ở Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Trong quá tình dịch, nhóm dịch giả đã tham khảo những bản dịch "Truyện Kiều" khác đã được công bố bằng tiếng Pháp, tiếng Trung Quốc và tiếng Anh. Để giúp độc giả Nga ở các lứa tuổi, các tầng lớp xã hội và học vấn khác nhau bước đầu tiếp xúc với tác phẩm "Truyện Kiều", "Lời nói đầu" của bản dịch tiếng Nga đã viết một cách khái quát về thân thế, sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Du trong bổi cảnh xã hội Việt Nam thế kỷ XII-XVIII. Đồng thời, phần tóm tắt "Truyện Kiều" được viết một cách chọn lọc, tương đối chi tiết theo tiến trình diễn biến của cốt truyện. Sau đó là sự phân tích ngắn gọn, làm nổi bật "Truyện Kiều" là một tác phẩm mang tính hiện thực và nhân đạo cao cả; là một bộ "Tiểu thuyết bằng thơ", một bộ "Bách khoa toàn thư" về xã hội Việt Nam trong quá khứ. Ngoài giá trị văn học, tác phẩm "Truyện Kiều" bằng tiếng Nga còn được coi như món quà về tình hữu nghị Việt - Nga của những người Việt sinh sống trên đất nước Nga với mong muốn được đem tác phẩm văn học được coi là tinh hoa của Việt Nam giới thiệu với bạn đọc Nga cũng như thế giới.

Phạm Ngọc Lan

Gió trong "Truyện Kiều" ra sao?

Trong Kiều thực lắm loài hoa
Cảnh - người đẹp tựa Hằng Nga yêu kiều
Tuyết in sắc ngựa lam chiều
Hỏi rằng Gió ở trong Kiều ra sao?

Thưa rằng
Truyện Kiều tuyệt tác trên đời
Lưu truyền hậu thế sáng ngời văn phong
Ngữ - nghĩa - câu chữ tinh thong
56 từ Gió, nội dung đa chiều
Tả chân cảnh thực: đáng yêu
Tượng hình qua Gió: làm xiêu lòng người
Gió đưa tâm trạng: hợp thời
Tượng trưng nhân cách con người: thực sâu

Nàng Kiều qua cuộc bể dâu
Gió đưa thân phận bi sầu triền miên
Bóng tà phụ mộ Đạm Tiên
Gió hiu dẫn dụ vào miền hư vô
Hồn đi trong gió cuốn cờ
Gió theo vào tận giấc mơ đầu đời
Gió lay làm tỉnh giấc người
Nghĩ rằng số vận vào đời mà Kinh
Chàng Kim đã kết chữ tình
Gió chiều giục vội tìm hình người thương
Chàng đà rón bước ngọn tường
Dù cho rày Gió vẫn vương tơ long
Qua bao ngày Gió đêm trăng
Gặp nàng tóc phủ bụi đường hoa râm
Cũng vì Gió bắt mưa cầm
Lửa hương đã để lạnh lùng người thương
Dịp đâu may mắn lạ thường
Tay tiên như gió giúp nàng đề thơ
Sóng tình đã quyện đôi ta
Dưới trăng Gió mát tựa hoa cầm đài
Tiếng khoan như Gió thoảng ngoài
Tiền người ăn Gió dặm dài về quê
Thương người cữ Gió tuần mưa
Về hộ tang Chú chẵn vừa ba đông
Họa nhà như vạ gió giông
Bán mình báo hiếu một lòng vì Cha
Ngập ngừng từng bước thềm hoa
Thân nàng giợn Gió trước bà mối manh
Thương con viên ngoại chẳng đành
Để cho mưa Gió tan tành con thơ
Do cơn sóng Gió bất ngờ
Nghĩa chàng Kim đó, nàng nhờ cậy em
Dù cho ở dưới cửu tuyền
Gió hiu là chị bên em chẳng rời
Ai làm cách trở đôi nơi
Người tình còn đó tựa trời gió đông
Thương thay thân phận hồng quần.
Để mưa Gió Mã chiếm phần đời xuân
Giục xe trong cõi hồng trần
Lòng nàng như gió mây vần biệt ly 

Trước Ngưng Bích, chốn thị phi
Thả hồn theo gió cuốn về duyềnh ngân
Phận nàng là kiếp phong trần
Tú Bà cùng Sở rắp tâm ra đòn
Lừa nàng miệng gã ráo trơn
Khó như gió kẹp mưa đơn, sợ gì
Bỏ nàng một phận Kiều nhi
Giữa ngàn như chiếc lá lìa, gió đưa
Thế mà gã Sở còn vu
Mắng nàng dụ gã làm trò gió mây
Đành cam thân phận đọa đầy
Lầu xanh là chốn đêm ngày đìu hiu
Mặc cho mưa Gió dập dìu
Làng chơi như Gió cành chim bụi đường
Mất mặt dày Gió dạn sương
Giãi dầu Gió tựa hoa tường hôm mai
Mặc như gió trúc mưa mai
Để cho cát lấp sóng vùi một thân 

Tình nàng như gió đêm xuân
Gió gác chàng Thúc lần lần trăng sân
Thoát Phong ba lão Thúc ông
Đôi trăng gió, cất Gió mừng vu quy
Khuyên chàng về chốn ninh gia
Đừng để sóng Gió tạo đà mưa mây
Chén đưa chàng buổi hôm nay
Chén mừng hẹn gặp trong ngày hân hoan
Ngờ đâu sấm sét hung tàn
Vợ cả Thúc đầy đọa nàng vì ghen
Biết chàng đã có sẵn bìm
Vẫn coi như gió thoảng bên tai ngoài
Nhởn nhơ thơn thớt nói cười
Cùng chàng Thúc thưởng ngoạn hoài gió trăng
Vợ còn sai lũ Khuyển - Ưng
Thuận phong - buồm gió xích chân nàng về
Ngắm trăng sao, dạ tái tê
Tưởng chàng như gió lọt về phòng loan
Trách sao luồng gió bạo tàn
Giúp cao ngọn lửa cháy tan loan phòng
Mẹ Hoạn làm gió sát thân
Đập nàng còn chửi là quân lộn chồng
Gặp nàng Âm các Cửa không
Thúc sợ vợ như tố giông phũ phàng
Cửa Thiền mây tạnh Gió quang
Sư càng nể mặt Nàng càng vững chân 

Tiếp bao khổ nạn gian nan
Lầu thâu hưởng ngọn gió ngàn dưới trăng
Từ Công tựa áng mây rồng
Kết nàng đâu hạng gió trăng ở đời
Gió đưa Từ Hải dặm khơi
Khi về hàm én mày ngài như xưa
Đời như Gió quét mưa sa
Đang thế công Từ đã ra thế hàng
Thấp cơ tử nạn trận tiền
Anh hùng tiếng đã kinh thiên một thời
Hồ khen: nàng đủ sắc tài
Ép cung Gió thảm cả hai nhăn mày
Nghe càng đắm ngắm càng say
Nghĩ mình đau phải thuộc bầy Gió trăng 

Chàng Kinh đi chẵn ba đông
Về vườn Thúy, mỗi gió đông đào cười
Thương nàng mặc gió vần người
Não lòng như ngọn gió đưa lay rèm 

Buổi nàng hội ngộ chàng Kim
Thẹn mình: giãi Gió mưa dầm xót xa
Bấy chầy Gió táp mưa sa
Mấy trăng cũng khuyết mấy hoa cũng tàn
Thương thay một phận hồng nhan
15 năm bị bao làn Gió xoay

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).