Trường ca của Cúc

Biết Hoàng Cúc có làm thơ nhưng vẫn bất ngờ bởi "Cúc" là một trường ca. Người làm thơ viết trường ca giống như người viết văn xuôi lao vào tiểu thuyết. Trong cảnh huống này, trường ca không khác gì một “hiểm địa” văn chương. Nhưng tôi bị "Cúc" chinh phục.

Ta ước nguyện tâm thanh hồn quảng mị
Để trời cao tấu vĩ khúc giao mùa”

NSND Hoàng Cúc sinh năm 1957 tại Hưng Yên. Tốt nghiệp khoa Kịch nói Trường Nghệ thuật Việt Bắc, làm diễn viên từ 1982, Phó giám đốc Nhà hát Kịch Hà Nội từ 2001 cho đến khi nghỉ hưu 2012. Các vai diễn nổi tiếng: Tám Bính trong “Bỉ vỏ”, Thủy trong “Tướng về hưu”, cùng nhiều vai diễn sân khấu và điện ảnh khác.

Từng đoạt nhiều Huy chương vàng, Giải A, Giải Nữ diễn viên xuất sắc tại các hội diễn sân khấu, liên hoan phim, liên hoan sân khấu kịch truyền hình toàn quốc. Tác phẩm văn học đã xuất bản: "Cúc" (trường ca, 177 trang), Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2024.

img_3731.jpg -0
NSND Hoàng Cúc.

Tôi không quen biết NSND Hoàng Cúc ở ngoài đời, chỉ biết chị qua các vai diễn nổi tiếng, những vai diễn mà có lẽ, đến giờ, vẫn còn vọng động trong tâm trí thế hệ chúng tôi, như những kỷ niệm, như một niềm tín mộ xa xăm.

Biết Hoàng Cúc có làm thơ nhưng vẫn bất ngờ bởi "Cúc" là một trường ca. Người làm thơ viết trường ca giống như người viết văn xuôi lao vào tiểu thuyết. Trong cảnh huống này, trường ca không khác gì một “hiểm địa” văn chương. Nhưng tôi bị "Cúc" chinh phục. Thú thực, đã khá lâu rồi không được đọc một cuốn sách mang lại nhiều cảm xúc đến thế. Chúng tôi làm nghề, thường phải đọc cái mình cần, ít khi được đọc điều mình thích…

1. "Cúc" mang một nội lực xúc cảm cực kì mạnh mẽ, một tâm hồn nghệ sĩ tinh tế, lãng mạn, lắng sâu. Nếu trường ca truyền thống thường dựa vào sự kiện, thì "Cúc" chủ yếu tựa vào cảm xúc. Tính tự sự trong đây, có chăng, cũng chỉ là cái cớ để chủ thể trữ tình cất cánh những xúc cảm của mình. Theo một nghĩa nào đó, "Cúc" là sự phơi mở tận cùng thế giới bên trong phong phú và biến ảo của người thơ với mọi cung bậc buồn vui. Cứ thế, chập chờn như một giấc mơ, "Cúc" dẫn dụ ta vào một không gian riêng có, mong manh, mộng ảo, đẹp và buồn: “Tôi đã đi không ngoái đầu nhìn lại/ Như khúc đầu của dòng sông trôi mãi/ Bỏ lại tháng ba cháy rụi triền đê…”; “Tháng mười hứa hoa nhà sẽ nở/ Đan heo may lúa rộ chín cánh đồng/ Bông cúc dại mải mê lời tình tự/ Khuyết trăng vàng man mác trải đầu non”…

Dòng cảm xúc trữ tình cuồng mị, khi cuộn trào tha thiết, ngập tràn nỗi nhớ niềm thương, khi thảng thốt mong manh như gió thoảng, khi là những nốt lặng tựa mặt nước hồ xanh lặng sóng, vô ưu, ở đó, gương mặt "Cúc" hiện ra.

Này là giai điệu giã từ ấu thơ, kỷ niệm, giã từ những ảo tượng đẹp đẽ xa xăm: “Thôi nhé cánh đồng đã gặt/ Cánh cò cũng bỏ đi xa/ Chỉ còn la đà khói tỏa/ Rạ rơm đốt thơm chiều tà”. Này đây, là nhịp bước trong veo lúc mới vào đời của người con gái: “Hà Nội ơi dịu dàng em xuống phố/ Cỏ ven đường mê mải khúc hoan ca/ Con se sẻ lân la trên khung cửa/ Tiếng sơn ca thổn thức gọi yêu về”… Có khi đó là một Cúc trải đời, sắc sảo, cô đơn, nhưng biết tự trào và tuyệt nhiên không ảo tưởng vàng son giấy gấm: “Ngồi buồn lôi mặt ra chơi/ Vết hằn năm tháng tơi bời xóa luôn/ Xóa luôn cả khóe miệng buồn/ Xóa luôn cả ánh mắt tuôn lệ trào”.

Và đây, hãy xem Cúc “lên đồng” nhập vai, hóa thân vào các cung bậc và trạng huống đàn bà: “Tôi đi tìm ai?/ Mải miết tìm những ải những ai/ Là người đàn bà khướt say/ Em đẹp dần lên khi đời lay lắt/ Mỗi đêm khuya lơ khuya lắc/ Giẫm bóng mình/ Là bà mẹ già trắng tay/ Bảy con chết trận/ Là hồn ma chết thảm vẫn khát tình.../ Tôi trở về thành bà dì ghẻ/ Không con/ Nuôi nấng đám con chồng/ Bơ bất/ Tôi hóa thành hòn đá vọng phu/ Đêm ngày phơi nắng/ Trắng cỏ triền sông thảm thiết gọi đò…”.

"Cúc" có các sắc thái thẩm mỹ trữ tình phong phú: đẹp nhưng buồn bã hư hao; âu lo trước những thiếu vắng gần gũi tình người; thành kính, nâng niu với đấng sinh thành; ấm áp, tự tại, an nhiên trước sự chảy trôi của thời gian. Xuyên không trong không gian và thời gian, "Cúc" biến ảo luân phiên vai chủ thể trữ tình, nhiều nhất là “em” với những tiếng Kiều đồng vọng: “Đa mang hái mớ bòng bong/ Giờ thì phận mỏng ngắm vòng nguyệt mưa”; “Vầng trán đã hằn in ngàn sóng bạc/ Chôn miền đau khai huyệt chỉ riêng mình”…

Nhưng Cúc không làm thơ để hờn dỗi, vây vo. Thế nên, "Cúc" dài nhưng không nặng nề, mệt mỏi. Kỷ niệm, bạn cũ, trường xưa, những ngày mưa lũ, dáng mẹ, bóng cha… vụt qua trong cơn mơ như gió thoảng, mây trôi, buồn nhưng không lạnh, nhớ thương mà không sến súa.

"Cúc" có không gian thực, nhưng cũng sáng tạo nhiều không gian mộng ảnh khơi gợi về những giấc mơ cổ tích đẹp đẽ xa xôi.

2. Nếu trường ca truyền thống thường gắn với những câu chuyện của cộng đồng, thì "Cúc" lại là sự triển hiện cảm xúc thuần toàn của con người cá nhân nghệ sĩ. Trải bao biến cố, bệnh tật, cả những bể dâu, Hoàng Cúc viết thơ trong trạng thái của người "nằm lặng lẽ ngắm trăng rơi", bỏ qua mọi chấp trước trần ai. Đó là lí do để nói, trường ca của Hoàng Cúc phảng phất bóng dáng “thiền ca”, kiểu thơ của một người tu hay kẻ hành thiền. Không khó để nhận ra, sự hòa trộn tự nhiên cảm thức tôn giáo và tín ngưỡng trong "Cúc", đặc biệt, sự xuất hiện rất dày mảng từ vựng thể hiện cảm quan Phật giáo cho thấy dường như người đã xả ly tham ái, buông bỏ chấp thủ, giữ tâm thanh, an trú vào chốn khác: “Nơi xa thăm thẳm câu kinh kệ/ Vang vọng thinh không rợn linh hồn/ Đứng đây một chút là hư ảnh/ Thác nước mãi còn/ Ta có không”.

Trước bể dâu sóng gió cuộc đời, chủ thể dường như đã tu tập tới hạn để vượt qua, buông xả và giải thoát. "Cúc" tuy có lúc phảng phất hư vô, nhưng trên hết, đó là sự vượt thoát hoàn toàn khỏi những tục lụy xác thân, để được rong chơi giữa vô thường. Không ít lần ta bắt gặp trong đây, sau những đợt sóng ngôn từ, là sự an tĩnh của tâm hồn trước cuộc đời giông bão: “Hoa cúi rạp để sáng mai tỉnh thức/ Gió an yên bầu bạn vai trời”; “Ta xếp lại/ Nếp nhăn nơi khóe miệng/ Xóa chân chim/ Ém lại nụ cười/ Thế là sống/ Đời an yên cây cỏ/ Bốn mùa qua/ Dẫu mưa gió giày vò”…

z5504258279437_1e116decf887897138b45356bf06e4fe.jpg -1
Bìa tập trường ca “Cúc'' của NSND Hoàng Cúc.

"Cúc" nói nhiều về cái chết, nhưng người thơ lại bình thản xem nó chỉ như là một cuộc ra đi. Lời thơ phảng phất gió mây, “Dưới gốc bồ đề/ Tâm linh nhập Phật”: “Đông về hoa tàn có rộ/ Đào ngỡ khát bừng nụ xuân/ Dấu chân địa đàng khẽ mở/ Chờ ta muôn ngả thiên đường”…

3. Đọc "Cúc", thấy tuôn chảy nhuần nhị tự nhiên những huyền tích có từ cổ mẫu văn hóa như cánh đồng, cây thiêng, đền đài, hình tượng tôn giáo…, cái khắc dấu trong tiềm thức, tạo thành suối nguồn in đọng nơi khóe mắt, con tim, thủ thỉ âm vang trong giọng nói tiếng cười: “Xưa mẹ bảo quê mình toàn cánh đồng sen/ Qua cánh đồng bát ngát/ Ôm con đê nghe sông Hồng hát/ Nghiêng ngả đền đài miếu mạo ủ sương”; “Cả cánh đồng ôm chặt triền đê/ Chử Đồng Tử vùi mình ôm cát/ Tiên Dung tắm Dạ Trạch đầm sen bát ngát/ Hồn phách phiêu bồng lưu lại dấu yêu”…

4. "Cúc" dung chứa một năng lực ngôn ngữ tuyệt vời. Có cảm giác, Hoàng Cúc viết trường ca trong trạng thái vô thức, mơ hồ. Câu chữ của chị, do thế, biến ảo, tuôn chảy tự nhiên. "Cúc" không làm chữ, không chủ ý thiết tạo hình thức song có nhiều câu thơ lạ và hay. "Cúc" không kể chuyện mà có chuyện, không phô phang tình cảm mà ngập tràn xúc cảm.

Hình thức thơ "Cúc" lỏng, biến cải linh hoạt theo cảm xúc của chủ thể và đối tượng tâm tình; khi là thơ tự do: “Em đã khiến ta phục sinh - người đàn bà/ Đi hết biết dòng sông không còn sóng/ Nghe tiếng vọng thời gian ngưng đọng/ Bàn tay đan bừng sáng cả mặt trời”; khi lục bát: “Đức tin vô đối bòng bong/ Thấy sừng sững núi chạm bong bóng chiều/ Lênh đênh gánh chuyến đò xiêu/ Đắm đâu mẹt dạt chạm điều tái tê”; khi tựa cấu trúc đồng dao: “Lời em khóa/ Mắt lảng rời/ Biết vùi đâu/ Tức tưởi khóc cười…”; lúc lại là thể thơ bảy chữ phảng phất hơi thơ cổ: “Tôi thấy em tôi ở cuối đường/ Chẳng màng khi thấy lá vàng sang/ Mơ màng mòn mỏi nơi chiều vắng/ Lặng lẽ đi ngang chẳng ngó ngàng…”.

5. Đọc "Cúc", có thêm một minh chứng để khẳng định, không nên hiểu trường ca trong khái niệm, mà phải hiểu như những gì nó diễn ra trong thực tế. Trên một ý nghĩa nào đó, có thể xem "Cúc" thuộc số ít các tác phẩm đã làm đứt gãy ít nhiều cấu trúc thể loại vốn có của trường ca. Nó xóa bỏ cái nhìn sử thi, đưa trường ca trở về câu chuyện cá nhân, gắn với cảm xúc, số phận con người đương đại, đồng thời, nó phá vỡ tính chuyện, chỉ giữ sườn truyện như một sợi chỉ mong manh để nâng cánh cho cảm xúc…

Có thể xem "Cúc" là sự hiện diện của một tâm trạng, cũng là hiện thân của phục sinh và giải thoát. "Cúc" sắc sảo, nhưng đủ rộng lòng để giấu ẩn. "Cúc" buồn đau, nhưng đủ chín để khoan dung. Và như thế, "Cúc" bừng ngộ thăng hoa và giải thoát, ngập tràn cảm thức phục sinh trong cõi mộng ảnh nhân gian: “Ta là thế ngạo nghễ cười dương thế/ Quá nửa chiều mới biết nương thân/ Không biết sợ xin dưới kia đất mẹ/ Cho yêu thương, chào nhé hôn nào/ Tờ lịch cũ câu thơ buồn nhân thế/ Trả cho đời mơ giọt nắng tinh khôi/ Trên trời biếc lũ chim trời quấn quýt/ Dưới đất mềm/ ta ươm/ một nhành mai”…

Sau hào quang sân khấu và màn ảnh với các vai diễn để đời, Hoàng Cúc đã khơi mở những ẩn mật nội giới của mình trong một không gian khác, một ngôn ngữ khác, theo một cách riêng, tinh tế và tài hoa hiếm thấy.

Phùng Gia Thế

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).