Trở lại Đồi Văn hóa kháng chiến

Thực ra thì đây là lần đầu tiên tôi mới được đến nơi này nhưng tôi vẫn thích dùng hai chữ "trở lại" chứ không muốn nói hai từ "lên thăm", cái chính là bởi "lên thăm" nghe nó xa lạ và khách khí, còn "trở lại" nghe vừa thân gần lại vừa có ý tự trách mình bao lâu rồi xa cách.

Một ngày thu, nắng vàng hanh nhẹ, Hội Điện ảnh Hà Nội tổ chức chuyến đi thăm lại "Đồi Văn hóa kháng chiến". Dường như những người tổ chức chuyến đi này muốn các nghệ sĩ làm công tác Điện ảnh của Thủ đô thêm một lần hiểu và biết về những tháng ngày gian nan mà các văn nghệ sĩ tiền bối của chúng ta đã sống và viết như thế nào trong những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp (1946 - 1954).

Xe xuất phát lúc 6 giờ 30 vậy mà chỉ hơn hai tiếng đồng hồ chúng tôi đã tới nơi cần đến. Còn nhớ, hồi kháng chiến, để lên được tới đây các văn nghệ sĩ kháng chiến đã phải đi bộ tắt đồng, vượt rừng băng núi có khi phải mất cả tuần lễ.

20161216091113-6a-co-mot-doi-van-hoa-khang-chien-o-bac-giang.jpg -0
Ngôi nhà của nhà văn Nguyên Hồng và vườn cây.

Ngay lối rẽ cạnh tỉnh lộ 287, cách thị trấn Nhã Nam chừng 2 cây số, chúng tôi đã thấy một tấm bảng màu xanh chỉ dẫn lối vào "Đồi Văn hóa kháng chiến". Cũng chẳng xa xôi gì, chừng nửa cây số là tới sau khi xe đi qua Trường Tiểu học và THCS mang tên Nguyên Hồng. Một lối đường đất đủ cho hai xe máy qua lại lên xuống chúng tôi đã tới cổng của nhà của nhà văn Nguyên Hồng. Theo như chúng tôi được biết thì ngôi nhà của ông nhà văn "Bỉ vỏ" này là "chứng tích" duy nhất còn lại của "Đồi Văn hóa kháng chiến" năm xưa.

Bà Trần Thị Loan, người con dâu thứ hai của nhà văn Nguyên Hồng (vợ ông Nguyễn Vũ Giang) là người sống ở ngôi nhà này từ năm 1975 cho tới nay và hiện là người trông coi "ngôi nhà di sản", vồn vã ra đón chúng tôi. Nhìn người phụ nữ tuổi bảy mươi, dáng nhỏ, hơi gầy nhưng đi lại xăng xái đủ làm chúng tôi cảm động. Bà Loan "tự nhiên" trở thành người hướng dẫn viên và người kể chuyện về "Đồi Văn hóa kháng chiến" cho đoàn chúng tôi.

Như thông lệ và cũng là việc phải thế, chúng tôi vào thăm nhà của nhà văn Nguyên Hồng để "chào" ông và để thắp nén hương lên bàn thờ tỏ lòng tri ân một nhà văn tiền bối. Một ngôi nhà ba gian nhỏ, tường xây, lợp ngói nhưng tất cả đều đã cũ. Điều hay nhất mà chúng tôi cảm nhận được là mọi đồ vật trong nhà, hay nói cách khác là "gia tài, gia sản" của ông nhà văn nổi tiếng nhưng tác phong và lối sống vẫn "đượm chất nông dân Bắc bộ".

Bà Trần Thị Loan chỉ tay vào một chiếc giá sách nhỏ làm bằng tre, màu thời gian cũ mờ, bà giới thiệu: "Giá sách này thày tôi quý lắm. Cụ thường đặt lên đó những cuốn sách mà mình yêu thích". Giờ thì giá sách này không được dùng nữa vì tất cả các tác phẩm của nhà văn Nguyên Hồng và những cuốn sách mà nhà văn "tích cóp" được đều được bảo quản trong những chiếc hộp giấy cứng và xếp gọn gàng trong hai chiếc tủ sách bằng sắt có cửa kính. Bà Loan sau hồi để chúng tôi ngắm nghía thì nói thêm "Ông cụ hồi còn sống ngoài những lúc ngồi bàn viết ra là đọc sách. Cụ thường gọi "Loan ơi. Con lấy ở xích đông (giá sách bằng tre) cuốn Les Misérables (''Những người khốn khổ bản tiếng Pháp) mang cho thầy".

Nghe bà Loan kể lại thấy vui vui, bởi lẽ ông nhà văn nhìn "quê quê" thế mà tiếng Pháp cứ rành rành. Hơn nữa nhà văn Nguyên Hồng mới chỉ học xong tiểu học đã phải thôi học để cùng mẹ đi kiếm tiền. Ông vẫn xưng "thầy" một cách thân thuộc chứ không xưng "Ba" như những người "thức thời" dạo đó. Bà Loan còn cho biết thêm "Thầy tôi với u tôi đều thạo tiếng Pháp. Lúc rảnh rỗi hai cụ lại nói chuyện, đọc thơ bằng tiếng Pháp với nhau".

Gia đình nhà văn Nguyên Hồng cùng gia đình nhà văn Kim Lân là hai "gia đình văn nghệ" đầu tiên lên "Đồi văn hóa kháng chiến". Đầu năm 1947, khi ấy thực dân Pháp đã chiếm được Hà Nội và nhiều địa phương khác. Thực hiện phương châm "Trường kỳ kháng chiến" của Chính phủ ta nên Hội Văn hóa cứu quốc được sơ tán lên "An toàn khu" ở vùng Nhã Nam - Yên Thế. Các gia đình của các văn nghệ sĩ cũng sơ tán theo cùng. Lên tới "An toàn khu", Hội Văn hóa cứu quốc và gia đình các nhà văn được địa phương bố trí ở một khu đồi thấp (còn gọi là Đồi Cháy) thuộc thôn Sậu, xã Quang Tiến, huyện Yên Thế (nay thuộc huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang). Bà Loan cho hay: "Thầy tôi kể lại rằng: Hồi đó lên đây mỗi gia đình được địa phương cấp cho mẫu đất vừa để dựng nhà và vừa để cấy lúa trồng ngô khoai sắn tự túc lương thực. Ban đầu là dựng nhà tranh vách đất, dần dần thì lợp mái rạ, mãi sau này mới xây gạch lợp ngói như hiện nay".

 Theo lời kể của bà Loan thì cái tên "Đồi Cháy" này do chính nhà văn Nguyên Hồng đặt tên. Lý do là bởi dạo đó đồi này chỉ toàn đất sỏi đỏ, trọc trơ, lưa thưa mấy bụi mua bụi sim, nhà cửa lèo tèo lụp xụp. Nhìn quang cảnh ấy với lại đồi chưa có tên nên ông nhà văn đã "hóm hỉnh" đặt tên như vậy. Sau này người dân gọi là xóm Cầu Đen cũng có lẽ bởi dưới chân đồi có một dòng suối nhỏ chảy qua. Về mùa mưa nước từ trên đồi đổ xuống có màu đen nên suối gọi là suối Cầu Đen và tên xóm trên đồi cũng gọi thế cho quen thuộc.

Sau gia đình nhà văn Nguyên Hồng và Kim Lân thì Đồi Văn hóa kháng chiến vui dần lên. Các văn nghệ sĩ khác như: Ngô Tất Tố, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyễn Đình Thi, Đỗ Nhuận, Tố Hữu, Tạ Thúc Bình, Tú Mỡ, Vân Đài, Anh Thơ, Trần Bảng… lần lượt đến sinh sống. Nơi đây thực sự là "Thủ đô" của văn nghệ kháng chiến và "làng" của gia đình các văn nghệ sĩ. Bà Trần Thị Loan có kể cho chúng tôi nghe một đoạn trong tác phẩm "Ấp Đồi Cháy" của nhà văn Nguyên Hồng, ông đã viết rằng: "Nhà cất xong, bếp núc cũng ngày ngày ba lần đỏ lửa như chung quanh. Những võng con thơ đã có chỗ mắc màn. Tiếng gà lợn đã nhộn nhịp ngoài sân. Canh khuya lại có cả những tiếng thở chèm chẹp của những con vện, con mực nằm dưới chân giường người ngủ mệt".

Chúng tôi được giới thiệu thêm: Tại đây, hàng loạt tác phẩm bất hủ của văn nghệ sĩ đã ra đời. Nhà văn Kim Lân viết truyện ngắn "Làng", "Vợ nhặt", "Con chó xấu xí"… Nhà văn Ngô Tất Tố sáng tác nhiều thể loại như: "Bùi Thị Phác", "Vĩnh Thụy ca" (chèo), "Buổi chợ trung du", "Quà Tết bộ đội", "Anh Lạc" (truyện) và hàng loạt tác phẩm dịch. Nhà văn Nguyễn Huy Tưởng viết khởi động mấy chương đầu tiểu thuyết "Sống mãi với Thủ đô" và một số bài báo. Nhà văn Nguyên Hồng sáng tác rất nhiều: "Ấp Đồi Cháy", "Địa ngục và lò lửa", "Đất nước yêu dấu", "Đêm giải phóng"… Tất cả đều là ký. Tạ Thúc Bình, Trần Văn Cẩn có những tranh cổ động. Khá nhiều tác phẩm của Tố Hữu, Tú Mỡ, Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi, Anh Thơ… cũng ra đời từ Đồi Cháy này. Cũng ở nơi đây đã khởi thảo cho số Báo Văn nghệ ra đời năm 1948 tại chiến khu Việt Bắc.

Đồi Cháy cùng với Gia Điền (tỉnh Phú Thọ) là hai nơi ăn ở, đi lại, hoạt động nhiều nhất, lâu nhất của giới văn nghệ nước nhà trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong hồi ký của Anh Thơ, Tô Hoài, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình Thi, Nguyên Hồng, Kim Lân… đều ghi lại những kỷ niệm không bao giờ phai mờ của mình về đồng nghiệp và bà con Đồi Cháy. Nhà văn Ngô Tất Tố đã mất tại đây trước mấy tháng hòa bình lập lại ở miền Bắc (năm 1954).

Nghe chuyện xưa chúng tôi thấy tự hào về thế hệ các nhà văn cách mạng. Họ đã sống và tham gia cuộc Kháng chiến trường kỳ gian lao và anh dũng của dân tộc bằng chính những tác phẩm chân thật của mình. Họ đã cống hiến cho cách mạng một cách không hề đắn đo hay toan tính. Nhưng chúng tôi lại thấy hụt hẫng bởi ngoài tấm bảng chỉ dẫn ngoài đầu lối rẽ thì "Di tích cách mạng" này hầu như bị thời gian làm mai một.

Bà Trần Thị Loan cho biết "Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, lần lượt các gia đình cùng các văn nghệ sĩ trở lại Thủ đô nhưng chỉ mới về Hà Nội được gần ba năm thì thầy tôi thấy nhớ Đồi Cháy, nhớ rừng nhớ núi, nhớ người dân nơi đây nên thày tôi quyết định đưa vợ con trở lại "Đồi Văn hóa kháng chiến" để sinh sống cho tới nay".

Giờ đây, nhà ở của nhà văn Nguyên Hồng vẫn nguyên chỗ cũ, căn nhà của tác giả "Ấp Đồi Cháy" năm xưa nay đã khá hơn dù vẫn lợp ngói, tường gạch. Vườn trước nhà xum xuê cây cối. Hàng bạch đàn, cây khế, giếng nước, chiếc chõng tre, tủ sách… dường như vẫn có bóng dáng thấp thoáng của nhà văn lao khổ ở Đồi Cháy này.

Và Đồi Cháy - "Đồi Văn hóa kháng chiến" cùng với" Khu lưu niệm 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân" ở thị trấn Nhã Nam (cánh chừng 3km) đã trở thành những "Địa chỉ đỏ" không chỉ riêng với người dân Bắc Giang, không chỉ riêng với giới văn nghệ sĩ và lực lượng công an mà đã là "tài sản" của cách mạng.

Tuy nhiên với lần trở lại "Đồi Văn hóa kháng chiến" này chúng tôi vẫn mong muốn nhiều hơn bởi nơi đây chỉ còn lại duy nhất ngôi nhà của nhà văn Nguyên Hồng.

Nguyễn Trọng Văn

Các tin khác

Độc đáo Trần Đại Thắng

Độc đáo Trần Đại Thắng

Là một người viết, tôi đương nhiên thích sách, và sách đẹp thì gây xúc động như nhìn bức tranh, một công trình kiến trúc, một bản nhạc hay… Sách của Đông A Book là những cuốn sách như vậy, do Trần Đại Thắng chủ trương, Thắng tự làm hoặc tổ chức cho người khác làm, từ những bản thảo chọn lọc về nội dung, đến trình bày, loại giấy, minh họa và bìa sách, độ dày của sách…

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca như một hàm sóng ngôn ngữ

Thơ ca đương đại Việt Nam vận hành như một hàm sóng lượng tử: tồn tại trong trạng thái chồng chập của vô số khả năng ý nghĩa trước khi "sụp đổ" thành trải nghiệm cụ thể trong tâm thức người đọc.

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Đi tìm đạo đức của Đỉnh Pu Sam Sảu

Tiểu thuyết “Đỉnh Pu Sam Sảu” của Trần Nguyên Mỹ viết về tội phạm ma túy vùng cao nhưng không đi theo lối trinh thám, phóng sự thường tình, mà tập trung khắc họa những con người dám dấn thân vào vùng cái ác để bảo vệ bình yên cho cộng đồng.

Những ước mơ, khát vọng của dân tộc cần được hiện thực hóa bằng những quy hoạch tầm nhìn cho tương lai.

Hiện thực hóa các giá trị để nhân dân được thụ hưởng

Lịch sử phát triển của loài người cũng chính là hành trình hiện thực hóa các mục tiêu, mơ ước, khát vọng từ vật chất đến tinh thần. Để đạt được thành quả đó không chỉ cần đến sự nỗ lực, kiên trì mà còn cả tầm nhìn cho tương lai của quốc gia, dân tộc.

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Nhà báo Trần Nhật Minh: "Ta chả có gì, chỉ ký ức mang theo"

Hơn 30 năm gắn bó với nghề báo, từng là Trưởng ban Văn học nghệ thuật (VOV 6) của Đài TNVN, nhà báo Trần Nhật Minh đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng độc giả và thính giả yêu văn học nghệ thuật, anh là tác giả của hai cuốn tản văn đầy cảm xúc: "Miền sau cánh cửa" (2020) và “Những cuộc trà trên căn gác cũ” (2024). Ở "ô cửa" nào, "cuộc trà" nào, nhà báo Trần Nhật Minh đều không giấu được những bận lòng với quá khứ, chữ nghĩa, thực tại và ân tình với bè bạn.

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

NSƯT Kiều Dư - Ba trong một!

Với NSƯT Kiều Dư là sự hội tụ của một nhạc sĩ, một ca sĩ và một thi sĩ trong con người anh, vì vậy bằng hữu văn nghệ vẫn gọi anh là: Dư - ba trong một!

Dông bão đã đi qua

Dông bão đã đi qua

Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà mô phạm về đạo đức, được xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương. Một ngôi trường ở miền núi có uy tín, thầy giỏi, trò vào học có điểm thi đầu vào khá cao, và chắc chắn đỗ đại học. Đó là ngôi trường ước mơ của bao thế hệ học trò.

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Có bao nhiêu dạng thức của thơ trữ tình?

Trước hết, thơ là sự rung động của trái tim, của tâm hồn người viết với cảm xúc là mạch nguồn nuôi dưỡng thi ca thuộc phương diện trữ tình. Thơ trữ tình có thể hiểu là những kiểu biểu hiện khác nhau của cái "tôi" cảm xúc trong thơ. Một số bạn yêu thơ đặt câu hỏi: "Vậy cái tôi cảm xúc trong thơ trữ tình thường biểu đạt ở những dạng ngôn ngữ thơ như thế nào?".

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

Nghiên cứu, phê bình thơ mấy điều... phản biện

1. Trong một bài giảng về quyển "Chinh phụ ngâm" cho sinh viên các trường đại học, in ở một số sách và ở "Hoài Thanh toàn tập", tập IV, Nhà xuất bản Văn học, H. 1999, khi nhắc đến câu thơ "Hà lương chia rẽ đường này", nhà phê bình Hoài Thanh có giải nghĩa như sau: Hà Lương: cầu trên sông, không phải tên đất. Giải nghĩa như trên đúng một nửa là đấy không phải tên đất, không đúng một nửa là: đấy không phải cầu trên sông mà là cầu và sông (hà: sông, lương: cầu).

Khúc luân vũ tháng Năm

Khúc luân vũ tháng Năm

Tháng năm, những giọt mồ hôi rơi trên cánh đồng của người nông dân để đổi lấy nụ cười, niềm vui mẩy tròn những hạt lúa vàng mùa chiêm. Tháng năm, người giáo viên cũng bước vào mùa gặt. Thêm một chuyến đò lại sắp sửa sang sông. Tháng năm như cung đàn ngân lên phím nhớ, để lại ngân vang cả một khung trời kỷ niệm cho những ai đã từng đi qua tuổi học trò.

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Những thế giới sụp đổ lặng lẽ trong văn học phản địa đàng

Bạn đã bao giờ thức giấc giữa đêm và bỗng không chắc mình là ai? Văn học phản địa đàng khai thác nỗi bất an tận cùng ấy. Đó là nơi con người sống dưới lòng đất, nơi những đứa trẻ sinh ra chỉ để hiến tạng, nơi tiếng mẹ đẻ chẳng còn ai để cất lên.

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Nghệ thuật mới thơ Hai - Cư Việt Nam hiện đại

Mấy năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện những CLB thơ Hai-cư với nhiều người tham gia và đã có những cuộc thi thơ Hai-cư. Một số bạn yêu thơ hỏi tôi về thể loại thơ này và sự khác biệt giữa thơ Hai-cư Nhật Bản và Việt Nam.

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Truyện ký “Rừng đói”: Nhà văn Trần Khởi kể chuyện đời

Cuộc đời của nhà văn mặc áo lính Trần Khởi bộc bạch hết qua hai tập truyện ký đặc sắc “Cha và con lính trận” và “Rừng đói”. Sau tập “Cha và con lính trận” gây ấn tượng mạnh cho độc giả trong và ngoài nước, năm 2026, Trần Khởi cho ra mắt tập truyện ký “Rừng đói”, NXB Hội Nhà văn.

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Anh hùng nước Việt trong thơ vịnh sử của danh sĩ Nhữ Bá Sĩ

Cuốn sách “Việt sử tam bách vịnh” (Ba trăm bài thơ vịnh sử Việt Nam) được danh nhân Nhữ Bá Sĩ hoàn thành đã trên 160 năm qua nhưng chưa có một bản dịch hoàn chỉnh. Bản dịch của dịch giả Lê Văn Uông (1913-2004) vừa được NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 1/2026 được ví như tập kinh thi của lịch sử dân tộc.