Trang viết của một người lính trinh sát

Mùa thu năm 1978, chàng trai Nguyễn Tuấn nhập ngũ. Mùa thu năm ấy, thanh niên ra trận nhiều quá. Các chàng trai Hà Nội tràn về các tỉnh Hà Nam, Hòa Bình… nhập vào các trung đoàn huấn luyện 582, 584… Chỉ ít ngày sau, những đoàn tàu quân sự đưa tất cả về biên giới Tây Nam.

Vào chiến trường, những  tân binh này, chưa biết đánh đấm thế nào. Mang tiếng huấn luyện ba tháng, nhưng chỉ được bắn mỗi ba viên đạn. Cũng chẳng biết có trúng mục tiêu hay không. Người báo bia, người ghi chép… báo là trúng. Thậm chí trúng với số điểm cao. Để tất cả vui. Để tất cả hãnh diện về khoe với người thân. Và, quan trọng hơn, để có khí thế vào trận.

nguyen tuan (trai) tang sach co chay vung bien 2.png -0
Tác giả Nguyễn Tuấn (trái) cùng đồng đội tặng sách cho mẹ liệt sỹ Phạm Văn Chung, nhân vật trong ''Cỏ cháy vùng biên''.

Sau năm năm ở chiến trường, gặp địch hàng trăm trận, Nguyễn Tuấn may mắn còn sống. Được trở về. Về nhà giữa thời buổi khó khăn kinh khủng, như bao đồng đội, anh bị cơn lốc mưu sinh cuốn đi với vận tốc của cơn bão lớn. Tìm kiếm công việc; làm quen với môi trường mới; lấy vợ; sinh con; lo nuôi con lớn; lo chăm sóc cha mẹ; lo gây dựng cho mình một mái nhà; lo đấu tranh chống trù úm của các đồng nghiệp ở lại hậu phương; lo sa thải; rồi bị cho về “một cục”; lại lo thất nghiệp; lo con lớn có công ăn việc làm… và hàng trăm thứ lo không tên khác. Thời gian cứ vần xoay người lính đến chóng mặt, vã mồ hôi. Ký ức chiến tranh tưởng như đã lùi xa, rất xa.

Biết kể cùng ai về những tháng năm xa xôi ấy?

May mà, hàng năm, lính tráng nhớ ngày nhập ngũ, nên hội tụ. Nhưng trong hàng chục lần hội tụ ấy, hỏi có ai cùng nhớ chuyện chiến trường K? Giữa không khí ồn ào, tay bắt mặt mừng ấy, chỉ là những chuyện cãi vã với nhau, hỏi thăm mấy câu xã giao, hẹn đi thăm đồng đội ở các tỉnh, rồi “đánh chén”; rồi hứng lên, đi hát karaoke mấy bài lính mục… rồi về ngủ khì. Bao ngày tháng, chu kỳ ấy cứ lần lượt trôi qua trên những mái đầu dần điểm bạc.

May sao, có một tiếng gọi thiêng liêng.

Tiếng gọi ấy cất lên từ những miền xa thẳm. Trong tâm linh người lính. Từ những nghĩa trang trên những miền đất chân trời, nơi bao đồng đội ngã xuống. Họ chết thay người sống. Họ nằm trong đất. Mặt ngửa lên trời. Họ im lặng. Họ có nói gì đâu. Họ có trách gì đâu. Nhưng nhìn họ, nhìn gương mặt tuổi 20 vô cùng đẹp, vô cùng trong sáng, trẻ hơn con mình bây giờ, buộc Nguyễn Tuấn và đồng đội phải kể lại.

Tiếng gọi ấy cất lên ngay chính giữa hôm nay. Giữa cuộc đời bộn bề vận động. Hiện tại có gì để nói không? Lạ thật, rời quân ngũ, mỗi người lính trải qua nhiều môi trường sống khác nhau, nhưng tại sao, ai cũng không nhớ. Mà tất cả chỉ nhớ về một không gian, một thời gian. Không gian ấy, là những tỉnh Ratarakiri, là Stung Treng, là Siêm Riệp, là Preach Vihia… xa xôi; Thời gian ấy, là những ngày áo lính bạc màu, quần  đằng sau ra đằng trước, là vác AK khua sương đạp mìn, là cơm vắt muối hầm, là bò tìm tàn thuốc, là mấy bài hát dân ca Khmer, là những đêm gác tử sỹ, là những phút giây chứng kiến đồng đội hấp hối, gửi những lời trăn trối vào rừng Miên… So sánh cái hôm nay và hôm qua, Nguyễn Tuấn cùng nhiều đồng đội khác càng biết thương nhớ và trân trọng cái quá khứ bé nhỏ ấy của mình.

Sau hơn bốn mươi năm, Nguyễn Tuấn mới tập hợp những câu chuyện của mình thành một tập hồi ức, lấy tên “Cỏ cháy vùng biên” (NXB Hội Nhà văn - 2022). Cỏ là hình ảnh ẩn dụ của người lính. Có bị phạt ngọn, cỏ vẫn sống. Có bị giẫm đạp, cỏ vẫn vươn. Có bị cuốc lật, cỏ vẫn hồi sinh. Có bị đốt, cỏ vẫn chờ thời mọc lại. Hình ảnh cỏ cháy tượng trưng cho cuộc chiến. Màu lửa là màu của trận chiến, của giao tranh, của sinh tử… Khái niệm vùng là những nơi dấu chân anh cùng đơn vị đi qua, là những địa danh lần đầu nghe trúc trắc nhưng khi đã thấm mồ hôi và chôn vùi máu xương đồng đội, lại trở nên vô cùng thân thương. Và vùng biên là nơi những người lính ngày đêm canh giữ biên cương. Từ biên cương nước mình đến biên cương nước bạn. Giá trị của cuốn sách, tuy nhỏ bé, nhưng không thể đo lường.

Nhà văn Nguyễn Tam Mỹ nhận xét: “Không phải là nhà văn, chỉ là người lính viết lại những chuyện của lính, chính điều đó khiến “Cỏ cháy vùng biên” của Nguyễn Tuấn có sức hấp dẫn theo kiểu “hữu xạ tự nhiên hương”, người đọc bập vào không thể dứt ra được. Chiến sự ác liệt, gian khổ, hy sinh đến độ lính có thâm niên nghe nhắc đến những địa danh như Đồi Tròn, Kam Tuất, Kămparạ, Anlong Veng… đều không khỏi rùng mình ớn lạnh.

“Ông Nguyên - Tiểu đoàn phó D9 cùng bốn lính bỏ ngũ chạy sang Thái Lan trong một dịp truy quét gần biên giới” (tr. 185). Cán bộ cấp tiểu đoàn vẫn “bùng thoát”, điều đó cho thấy mức độ gian khổ hy sinh ngoài sức tưởng tượng của bao người. Dẫu vậy, lính đáy (lính trơn) vẫn không hề phân tâm, vẫn gắn bó với nhau, vẫn ngày lại ngày cầm súng đi truy quét, tuần phục. Phản ánh chân thực, sinh động như cuộc sống vốn có của lính đã tạo nên sức hấp dẫn của “Cỏ cháy vùng biên”.

Nhà văn Trung Sỹ rất thích đoạn canh gác tử sỹ: "Thi hài của Phúc được đưa về một góc rừng cuối tiểu đoàn bộ, tôi được cắt cử gác ca 10 giờ đêm...  Tôi vén áo mưa sát lên cổ, tìm một chạc cây ngồi cạnh tử sỹ, cố quên khuôn mặt biến dạng của Phúc, lúc này tôi cũng bình tâm trở lại, mọi vật quanh mình cũng trở nên bình thường không ma quái, xa xa tiếng mang toác thảng thốt, nghe như tiếng kêu lạc giọng của ai gọi trong đêm, tiếng ễnh ương kêu "ồ uôm" như tiếng kêu từ dưới lòng đất, thỉnh thoảng trên cao tiếng vỗ cánh của những con cú săn đêm…

Ngồi đây với đồng đội có 1 tiếng đồng hồ thôi để cho đồng đội ấm lòng, nơi đây không đèn nhang hương khói nhưng có tình nghĩa của những người cùng cảnh ngộ. Ngồi đây với đồng đội để nghĩ đến bản thân mình... rồi ngày mai ngày mốt mình cũng sẽ được các đồng đội tiễn đưa ân cần.  Một người lính đầu tiên bị hy sinh nơi này, cảm giác linh hồn của Phúc cô đơn quá. Thương quá Phúc ơi!”.

Và đây là câu chuyện về nồi miến công trong cái Tết giữa vòng vây của địch - Tết năm 1981: “Thực phẩm ngày một cạn kiệt, chỉ còn lại nửa tải cá khô nhung nhúc giòi. Thịt nạc xay còn vài hộp để dành lúc có thương bệnh binh nấu cháo, lá giang nấu canh chua ăn mãi cũng chán. Đột nhiên Nguyễn Hồng Trưng, liên lạc đại đội 6 hồ hởi đi tới, trên tay xách một con công khá to quăng xuống nền bếp:

- Làm đi, chiều nay chúng ta được ăn Tết nhé!

Con công đực khá đẹp đã chết cứng, bị mất đầu và gãy một bên cánh. Tôi nhanh tay nhổ vội vài cái lông đuôi để cài vào ba lô trang trí. Các lính cũng xúm vào vặt, chỉ một loáng bộ lông đuôi trụi thùi lụi. Hóa ra con công này chết mìn tối hôm qua.

Chiều xuống, không còn bóng nắng chói chang, chúng tôi tụ tập giữa sân đại đội. Một nồi quân dụng miến thịt công được hai anh nuôi khiêng ra. Lính tráng mỗi người một góc, vai vẫn đeo súng, xì sụp húp miệng khen tấm tắc. Một nồi miến không bao giờ quên, một cái Tết muộn của lính bộ binh C6. Tuy không gia vị, không hành ngò… chỉ cho thêm nắm mộc nhĩ tươi vừa nhặt ở mấy khúc gỗ kè hầm, vị ngọt của thịt công thấm mãi trong lòng tôi, mãi mãi không thể quên cái cảm giác ấy.

Đêm hôm sau, chẳng thấy địch quấy nhiễu. Mãi đến 4 giờ sáng mới có một tiếng nổ lạc lõng trong bãi mìn... thằng Đi nhỏm dậy reo to:

- Lại sắp có chất tươi ấm chân răng rồi đồng hương ơi!

Tất cả anh em trong đơn vị khấp khởi chờ đợi. Sáng ra Trưng đã nai nịt gọn gàng, miệng cười rạng rỡ, nói tếu với anh nuôi Sanh Điếc.  Anh Lánh Đại đội phó lóc cóc đuổi theo Trưng, vừa chạy vừa gọi:

- Cho anh đi với! Tiện thể anh xem lại bãi mìn, còn bổ sung thêm.

Hai anh nuôi hì hụi đun một xoong nước to, chưa kip sôi thì bỗng nhiên một tiếng nổ khô khốc trong bãi mìn, tiếng mìn QK5... Mìn của ta, tất cả ngây người chết lặng. Tôi và anh Than Đại trưởng cùng mấy lính bộ binh lao về hướng bãi mìn. Lại một tiếng nổ rắn đanh, lần này là tiếng mìn KP2 của địch. Anh Than khựng chân lại như bị vướng mìn:

- Trưng ơi! Lánh ơi! Các em ơi!

Anh gào lên trong nước mắt, tôi lao lên kéo áo anh Than:

- Anh bình tĩnh đi anh Than! Sắp vào bãi mìn rồi, để em, em biết lối.

Tôi đi theo những cọc tiêu bí mật mà Trưng đã chỉ cho tôi, qua khoảng rừng xanh đến bãi cỏ tranh đã cháy đen hết gốc. Nhìn thấy anh Lánh đang ôm chặt ống đồng, máu loang trên mặt đất đầy tàn tro bụi, Trưng nằm sấp bất động bên cạnh con mang đã chết. Anh Lánh vừa rên vừa kêu trong cơn đau:

- Cẩn thận đấy, có mìn của địch gài. Nhìn cho thật kỹ rồi vào.

Tôi dò từng bước dẫn đội hình đến cõng anh Lánh và Trưng ra khỏi bãi mìn, không thèm để ý đến con mang, lúc này không còn ham muốn gì nữa. Theo lời anh Lánh kể trước lúc hấp hối… bọn địch đã chui vào bãi mìn, chúng tháo mìn QK5 gài lại trong lối mòn của ta hay đi, chúng còn gài thêm một cơ số mìn KP2 và đặt con mang đã chết làm mồi nhử. Trước khi hy sinh, Trưng còn ngăn không cho anh Lánh bước vào, sợ anh vào bãi mìn lại vướng mìn như mình. Anh cố tiến tới để cứu Trưng, nhưng vì quá căng thẳng nên anh vướng tiếp quả mìn thứ hai. Đưa hai người về doanh trại. Nồi nước Trưng dặn đun sẵn, giờ đây lại trở thành nồi nước tắm rửa cho Trưng”.

Vâng, đối với nhiều người, đó chỉ là một tổn thất bé nhỏ trong một cuộc chiến tranh bé nhỏ. Bé nhỏ, vì nó chỉ kéo dài hơn 10 năm (1977-1989). Bé nhỏ, vì nó ở rất xa. Bé nhỏ, vì hàng ngàn, hàng vạn người lính hy sinh, nhưng ít khi được nhắc tới.  Bé nhỏ, vì cuộc sống mỗi ngày có bao nhiêu sự kiện dồn lấp, chôn vùi nó. Bé nhỏ vì rất nhiều lý do khác… Nhưng cuộc chiến bé nhỏ ấy, nó cứ hiện ra, nó cứ trở về. Nó quấy rầy anh, nó ám ảnh anh, nó buộc anh phải kể về nó.

Kể ra để làm gì?

Cho chính anh. Cho ký ức không chết. Ký ức chết khi chính anh không nhớ. Cho đồng đội anh. Họ đọc. Họ cùng nhớ. Họ cùng bổ sung. Và họ cùng nhớ lại. Trận ấy, ngày ấy, họ đang ở đâu? Làm gì? Ai sống? Ai chết? Ai bị thương? Tất cả cùng nhớ. Ký ức tập thể được cùng ghi lại, sẽ tạo thành sức mạnh. Sức mạnh tinh thần. Sức mạnh thiêng liêng.

Và cho rất nhiều bạn đọc.

Những bạn đọc chân chính.

Những bạn đọc đã chán những quyển sách dày cộp nhạt nhẽo, những trang sách viết về chiến tranh một cách ráo hoảnh, những trang sách mà cả người viết lẫn người ca đều biết về chiến tranh một cách đại khái, qua loa… Có lẽ, qua cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, bạn đọc bây giờ mới được đọc những trang sách vô cùng trung thực về chiến tranh của những người lính trực tiếp chiến đấu ở biên giới Tây Nam. Những trang sách của Phạm Sỹ Sáu, Lê Minh Quốc, Nguyễn Thành Nhân, Trung Sỹ,  Nguyễn Vũ Điền, Bùi Quang Lâm cùng hàng trăm cây bút khác đã làm nên trào lưu văn học viết và văn học mạng về chiến trường K. Họ viết bằng chính máu xương của họ. Vì thế, tính trung thực được đồng đội soi tường tận. Độ tin cậy được đồng đội làm chứng.

Không có ước mơ nào mà không thể thực hiện, nếu bạn có ý chí và lòng kiên nhẫn. Nếu không có chiến tranh, Nguyễn Tuấn có thể trở thành một họa sỹ, một sinh viên văn khoa. Chỉ còn một năm nữa thôi là anh có thể dự thi vào đại học. Nhưng kẻ thù đã tràn qua biên giới. Bỏ sách. Bỏ bút. Cầm cây súng. Cầm địa bàn. Dẫn đơn vị đi chiến đấu. Rồi khi bình tâm, lại cầm bút. Cả bút vẽ và bút viết.

Một con người như vậy, cũng đủ cho hôm nay.

Một người lính như vậy, cũng đủ cho hôm nay.

Một cuốn sách như vậy, cũng đủ cho hôm nay. 

Đoàn Tuấn

Các tin khác

Kỳ 3: Toán Castor và chuyên án PY27

Kỳ 3: Toán Castor và chuyên án PY27

Hơn một tháng sau khi điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares xâm nhập miền Bắc bằng đường biển, CIA và Liên đoàn 77 quyết định cho toán gián điệp biệt kích mang biệt danh Castor nhảy dù xuống tỉnh Sơn La. Nhiệm vụ của toán là thu thập tin tức tình báo về hoạt động chuyển quân của Quân đội miền Bắc trên Quốc lộ 6 - con đường chính xuyên qua các tỉnh Tây Bắc đến Tây Nam tỉnh Sầm Nưa (Lào). Tuy nhiên, chỉ 3 ngày sau, cả 4 thành viên đều bị bắt, mở ra chuyên án PY27 của Công an miền Bắc.

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Ngày 14/6, hơn 59% cử tri Thụy Sĩ đi bỏ phiếu cho cuộc trưng cầu dân ý về đề xuất giới hạn dân số ở mức 10 triệu người vào năm 2050. Gần 55% phản đối, 45% ủng hộ - khoảng cách đủ để ngăn một cuộc va chạm có thể định hình lại quan hệ giữa Bern và Brussels trong nhiều thập niên tới nhưng vẫn còn những bất đồng.

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Một buổi chiều cuối tháng 5/2026, trên mạng xã hội xuất hiện hàng loạt dòng trạng thái của các nhà báo kỳ cựu. Có người chia sẻ lại hình ảnh những tòa soạn từng gắn bó nhiều năm, có người nhắc tên những tờ báo đã trở thành một phần ký ức của đô thị Sài Gòn, cũng có người chỉ lặng lẽ đăng một dấu chấm lửng. Những chia sẻ ngắn ngủi ấy phản ánh tâm trạng của những người đang chứng kiến một bước chuyển quan trọng của báo chí thành phố trong tiến trình sắp xếp, tinh gọn hệ thống cơ quan báo chí.

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Trong suốt thời gian vừa qua, báo chí đã trở thành một trong những tâm điểm quan tâm của xã hội. Đầu tiên là câu chuyện sắp xếp lại các cơ quan báo, đài, truyền hình ở các địa phương. Sau đó là những thông tin về việc sẽ xử lý các vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí mà điển hình nhất là việc chia sẻ lại các sản phẩm báo chí trên mạng xã hội. Trước đó không lâu, chuyện “báo chí hóa mạng xã hội” cũng đã từng được nhắc tới không ít lần. Tất cả đều cho thấy đang có một dịch chuyển mang tính bước ngoặt đối với báo chí hiện đại Việt Nam hôm nay.

Sợi chỉ vô hình

Sợi chỉ vô hình

Khoảng 5 năm trước, khi bước vào ngôi nhà của một nhân vật cần khai thác cho bài báo dài của mình về chuyên đề biến đổi khí hậu, tôi không nghĩ rằng mình sẽ ám ảnh cho đến tận bây giờ.

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Tháng 4/1961, sau khi huấn luyện kỹ lưỡng, điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares, xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng đường biển, mở màn chiến dịch của CIA đưa gián điệp biệt kích phá hoại miền Bắc. Theo kế hoạch, sau khoảng 1 đến 2 năm, khi đã gây dựng được cơ sở vững và guồng máy hoạt động tốt, Phạm Chuyên có thể chọn người thay thế và trở lại miền Nam. Trong trường hợp bị lộ, Chuyên rút vào rừng trốn, chờ Trung tâm đưa tàu ra đón bằng đường biển…
Nhưng Phạm Chuyên không ngờ mình lại trở thành nhân vật chính trong một chuyên án vô tiền khoáng hậu của lực lượng Công an miền Bắc.

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Michael L. Gray là một người viết đã 30 năm gắn bó với Việt Nam, đang hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh, hiện tham gia nhiều dự án cùng các hãng phim và nhà sản xuất tại TP Hồ Chí Minh. Với khán giả điện ảnh Việt Nam, Michael được biết tới qua bút danh Anh Mai, đồng biên kịch phim “Long Ruồi” – bộ phim hài hành động do Charlie Nguyễn đạo diễn, từng trở thành hiện tượng phòng vé năm 2011. Michael hiện đang hoàn thành một tập truyện ngắn bằng tiếng Việt và đồng thời tham gia phát triển nhiều dự án điện ảnh mới.
Trong cuộc trò chuyện với CTV Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng, Michael L. Gray nói nhiều tới cấu trúc kịch bản điện ảnh và tương lai của điện ảnh Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Khi yêu thương biến thành thù hận

Khi yêu thương biến thành thù hận

Đầu năm 2026, liên tiếp các vụ án mạng do ghen tuông, mâu thuẫn tình cảm xảy ra tại Tuyên Quang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Nghệ An… để lại nhiều bi kịch đau lòng. Từ những xung đột tưởng chừng rất nhỏ, nhiều người đã trượt dài trong cơn cuồng ghen, biến yêu thương thành tội ác.

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Muốn xuất bản một chương trình âm nhạc nghiêm túc, ít nhất riêng phần nhạc cần thuê nhạc sĩ phối khí, dàn nhạc giao hưởng, ban nhạc nhẹ, dàn nhạc dân tộc, ca sĩ, hợp xướng, thu âm, hậu kỳ. Nhìn cấu hình, có thể áng được tiền tỷ theo nhân lực. Dàn nhạc nhẹ có thể chỉ từ 5-10 nhạc công nhưng dàn giao hưởng thì ít cũng khoảng 80 người. Nếu cứ thế thì làng nhạc làm không hết việc. Nhưng, công nghệ đã làm thay đổi tất cả...

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

AI (trí tuệ nhân tạo) ngày càng ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống. Trong sáng tác âm nhạc, AI đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, từ hỗ trợ nhạc sĩ viết giai điệu đến hòa âm phối khí, thể hiện tác phẩm. AI là một “cộng sự” đắc lực hay mang đến những thách thức với người làm âm nhạc và đâu là dấu ấn cá nhân trong thời đại công nghệ lên ngôi là những vấn đề nhiều người băn khoăn...

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Hơn một thế kỷ nay, kể từ khi được phát hiện năm 1909, văn hóa Sa Huỳnh nói chung và di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) nói riêng được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là một "trầm tích lịch sử sống". Hiện di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh đang hướng tới là Di sản văn hóa thế giới.

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Đề xuất di dời Trường Đại học Dược Hà Nội, Khoa Hóa học (Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) để chuyển không gian “Đại học Tổng hợp Hà Nội” tại 19 Lê Thánh Tông thành khu Bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh, là một phương án có trong dự thảo đồ án quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Những ngày qua, thông tin này đã trở thành tâm điểm thu hút dư luận với những luồng ý kiến trái chiều...

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

“Việc nhẹ, lương cao”, “thế giới tự do”, “không cần lao động vẫn có cuộc sống sung túc, được bảo lãnh đi định cư tại các nước thứ ba như Mỹ, Canada, Australia”... Đó là những lời dụ dỗ khiến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tin theo và di cư bất hợp pháp sang Thái Lan mong được “đổi đời”.

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Trong đời sống âm nhạc, nhiều tác phẩm ra đời theo “đơn đặt hàng” hay yêu cầu, mong muốn nào đó không phải là điều xa lạ. Nhưng vượt ra khỏi mục tiêu ban đầu, nhiều tác phẩm đã ghi dấu ấn bền vững trong lòng công chúng. Đơn đặt hàng - tưởng chừng là khuôn khổ - lại giống như chiếc khung để nhạc sĩ vẽ lên những bức tranh âm nhạc sống động và nhiều điều thú vị.

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Trần Đại Thắng chưa bao giờ thực sự rời sông Đà. Dòng sông ấy vẫn lững lờ trong từng trang sách anh làm, trong mùi giấy in thoang thoảng, trong cả những đêm khuya anh ngồi viết lại chính đời mình. Từ cậu bé 6 tuổi mê mẩn ngắm những cuốn sách Nga trong một hiệu sách bên kia dòng sông Đà đến người dựng nên Đông A Books, Thắng chỉ làm một việc, giữ cho sách không trở thành một thứ thoáng qua. Cuốn "Tôi kể" dày 500 trang không phải lời kết. Chỉ là một lần nữa, anh lật giở ký ức, để xem tất cả những chi tiết nhỏ bé anh đã dành cả đời chăm chút, liệu có đủ nặng để níu lại một chút gì đó giữa dòng đời đang trôi quá vội.

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Sau gần một thập kỷ hoạt động trên không gian mạng, hệ thống phát sóng bóng đá lậu Xôi Lạc TV vừa bị Cơ quan công an triệt phá, khởi tố hàng chục đối tượng liên quan. Đằng sau những đường link xem bóng đá miễn phí tưởng chừng vô hại là cả một "hệ sinh thái" web lậu vận hành theo kiểu "đầu rắn nhiều thân", gắn chặt với quảng cáo cá cược và dòng tiền ngầm có quy mô lớn.

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Tôi quyết định làm chuyến “du lịch bụi” đến Hà Lan vào những ngày cuối năm 2025. Với tôi, đây thật sự là chuyến đi đáng nhớ, bởi Hà Lan không chỉ có kênh đào thơ mộng, cối xay gió, cánh đồng hoa Tulip rực rỡ, văn hóa xe đạp độc đáo mà còn là mảnh đất có nhiều điều để khám phá.

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Năm 2025, lịch sử và âm nhạc cùng lúc tìm được đường trở lại đời sống đương đại. Những bộ phim chiến tranh như "Mưa đỏ" đã lập kỷ lục doanh thu phòng vé với doanh thu trên 700 tỷ đồng; các chương trình Đại nhạc hội quy mô lớn thắp sáng không gian công cộng bằng cảm xúc tập thể, concert "Tổ quốc trong tim" thu hút 50.000 khán giả, Concert "Rạng rỡ Việt Nam" sau vài giờ mở bán đã cháy vé, cho thấy dư địa để phát triển công nghiệp văn hóa rất lớn. Vấn đề là làm thế nào để biến những khoảnh khắc bùng nổ ấy thành một chiến lược phát triển bền vững cho ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam.

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị không ngừng leo thang, một mô hình hợp tác độc đáo đang hình thành ngay tại trung tâm châu Âu. Thủ đô London của nước Anh sắp trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới chứng kiến xe tự lái của hai gã khổng lồ công nghệ đến từ Mỹ và Trung Quốc cùng vận hành. Sự hiện diện song hành này không đơn thuần là một cuộc đua công nghệ, mà còn mở ra một lối đi mới, nơi những đối thủ toàn cầu cùng phát triển dưới một khung pháp lý chung, mang đến hy vọng về khả năng phối hợp trong một lĩnh vực then chốt của tương lai.